Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘Xuân Diệu’

– Một ngày chớm xuân, còn gì tuyệt hơn khi đắm mình trong một không gian văn hóa đậm chất làng quê Việt. Nhấp một ngụm Bàu Đá, nhắm miếng nem Chợ Huyện, để những luồng gió làng phả vào da thịt, lắng nghe tiếng trống tuồng lúc xa lúc gần…

 
Ven sông Gò Bồi, nơi từng có cảng thị Nước Mặn một thời tấp nập – Ảnh: Uyên Thu

1. Buổi sáng. Xuất phát ở Quy Nhơn, theo quốc lộ 19, khoảng 20 phút bạn đã có mặt ở thị trấn Tuy Phước. Xuôi theo hướng đông khoảng 3km là đến vạn Gò Bồi (xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước, Bình Định), nơi gắn bó suốt tuổi thơ của “ông hoàng thơ tình” Xuân Diệu.

Nếu yêu thơ ông, hẳn bạn sẽ nhớ khổ thơ này: Ngủ không được bởi gió nồm thổi từ biển lên cứ nhắc/ Khi má anh sinh ra/ Anh đã thở hơi nước mắm của vạn Gò Bồi/ Nên tới già thơ anh càng đậm đà thấm thía hơn (Đêm ngủ ở Tuy Phước). Có mấy ai đưa nước mắm vào thơ nhẹ nhàng và thi vị như thế không? Có đến vạn Gò Bồi, thả những bước chân trần trên con đường đất mới hiểu được vì sao Gò Bồi cứ nhấp nháy suốt đời trong thơ Xuân Diệu.

Ngồi ở một quán ven sông, nghe tiếng gió tan trong ly cà phê, dõi mắt theo những chiếc sõng câu xuôi dòng bên bờ tre ken dày, bạn sẽ bất ngờ khi biết trăm năm trước, nơi mình đang ngồi từng tấp nập cảnh trên bến dưới thuyền đông vui nhất nhì xứ Đàng Trong.

Vào thế kỷ 16-17, nơi đây đã hình thành cảng thị Nước Mặn với những chiếc thuyền buôn Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Trung Quốc, Nhật Bản… và từng có mặt trên những hải đồ mậu dịch thế giới. Đến thế kỷ 18, phù sa sông Kôn bị bồi lắng, tàu thuyền không tiến sâu vào nội địa được, cảng thị Nước Mặn chìm dần vào quên lãng. Trong ngày đầu xuân, nỗi hoài cổ và suy ngẫm về sự bất tận của thời gian khiến bạn thấy thời khắc mình đang sống thật đáng tận hưởng.

 
Cụm tháp Bánh Ít ở Tuy Phước – Ảnh: Wikipedia
 
Cổng làng Vinh Thạnh cổ kính rêu phong – Ảnh: Uyên Thu

2. Đình làng Vinh Thạnh (xã Phước Lộc, huyện Tuy Phước) là kiến trúc cổ nhất trong số những ngôi đình còn lại trên đất Bình Định. Đình chỉ mở cửa mỗi năm hai lần vào dịp Tết Nguyên Đán và ngày giỗ hậu tổ tuồng Đào Tấn (ngày rằm tháng bảy). Với mỗi người Vinh Thạnh, ngôi đình là cái neo tâm linh, là hơi ấm len lỏi trong tim những ngày xa xứ sở.

Thả những bước chân trên con đường làng với những hàng cây xanh mát. Bồi hồi bước qua cổng làng cổ kính rêu phong. Tiếng vọng từ ngàn xưa như đang đuổi nhau trên những mái ngói cũ ánh lên sắc xanh kỳ ảo. Bất chấp quá trình đô thị hóa đang ồ ạt xâm lấn nông thôn, người Vinh Thạnh vẫn giữ được nét thuần Việt của mình.

Đường làng lối xóm tinh tươm. Những hàng rào duối, chè tàu được cắt tỉa tỉ mỉ. Lối đi không chỉ đơn thuần là lối đi nữa mà còn là một thú chơi rất tao nhã của người dân nơi đây. Làng Vinh Thạnh cứ vậy, khiêm nhường và quyến rũ bằng nét riêng không thể trộn lẫn của mình.

Trưa đến thật nhanh. Hãy ghé vào một quán nhỏ nằm khiêm nhường dưới bóng cây gòn trăm năm tuổi, thưởng thức món nem Chợ Huyện ở nơi ngày xưa từng là trung tâm của phố thị Gò Bồi.

Chiếc nem nhỏ xíu vậy mà công phu lắm. Bí quyết làm nem Chợ Huyện là công đoạn giã thịt. Thịt nạc đùi được giã hai lần, lần đầu chừng 20 phút, xong nêm gia vị rồi giã tiếp thật đều tay. Khi nào nghe tiếng chày “ngọt” thì thịt mới thơm, giòn, sợi dài mà không bị vụn. Nem được “mặc” bằng một lớp lá ổi, sau đó bọc bên ngoài lớp lá chuối vừa để lên men, giữ độ ẩm vừa tăng tính thẩm mỹ cho chiếc nem.

Nem Chợ Huyện dai mà giòn, hương thơm đủ làm mê hoặc thực khách. Nem ngon lại có chén rượu Bàu Đá cay nồng… Thật là buồn ngủ mà gặp chiếu manh! Đến Bình Định dịp này, bạn đừng ngạc nhiên khi những cây ổi đương mùa xuân đều trơ trụi lá!

 
Nem Chợ Huyện – đặc sản Bình Định – Ảnh: Uyên Thu

3. Chiều rơi chầm chậm. Tiếng trống tuồng lúc xa lúc gần rạo rực lòng người. Đi xem tuồng với hương rượu còn phảng phất đầu môi, bạn có cảm giác xứ này như gần gũi từ kiếp nào! Sân khấu tuồng rất đơn sơ, những “diễn viên nông dân” đêm đến hóa thân thành Nguyễn Huệ, Bùi Thị Xuân, Huyền Trân công chúa, Đào Tam Xuân, Phạm Công – Cúc Hoa…

Càng về khuya, tiếng trống tuồng càng thêm xao xuyến lòng người. Người nới ra, người lại vào bên trong chiếu. Có người vào hàng quán ăn tạm cái bánh rồi lại xem cho hết vở, có khi cũng phải đến nửa đêm.

Vãn tuồng, đường làng nhộn nhịp hẳn lên. Tiếng mọi người bình luận về các nhân vật trong vở diễn, về lòng trung nghĩa, về luân thường đạo lý. Và hình như mỗi người dân nơi đây đều mang trong mình một chút hào hiệp, bao dung của những nhân vật họ vừa xem vở…

Cũng chẳng cần phải ngủ nữa đâu, chẳng mấy chốc bình minh lại lên trên những cánh đồng xanh màu lúa đang thì. Gió ban mai đầu xuân đang thì thầm những cuộc hò hẹn để về với những vùng đất xa xưa trên quê hương Bình Định.

PHẠM UYÊN THU

__________

(*) Ai về Vinh Thạnh quê em
Ăn nem Chợ Huyện, xem đêm hát tuồng
(ca dao Bình Định)

Read Full Post »

Nguyễn Thị Phụng.



Mùa đông miền Trung đâu lạnh lắm. Sao thèm cái lạnh trong thơ Xuân Diệu “ Bữa nay lạnh mặt trời đi ngủ sớm/ Anh nhớ em, em hỡi anh nhớ em” Lại nhớ da diết đến nao lòng từ khi “Bữa nay lạnh mặt trời đi ngủ sớm” rồi! Xin mạn phép anh được đảo các danh từ “anh, em” đã dùng như đại từ trong câu thơ tiếp theo “Anh nhớ em, em hỡi anh nhớ em” thành “ Em nhớ anh, anh hỡi em nhớ anh”. Có lẽ anh mỉm cười khi em vừa thủ thỉ điều bí mật này. Em yêu thơ anh, nên mới yêu anh. Ta cùng chung quê nên cùng tự hào Tuy Phước. Em không đi xa mà sao cứ vời vợi nhớ thương. Còn anh bao rạo rực đong đầy trong ngày trở về thăm quê mình:

ĐÊM NGỦ Ở TUY PHƯỚC
Đêm ngủ ở Tuy Phước là để mà không ngủ
Những con dế cùng tôi thức suốt năm canh.
Thức những ngô
i sao, thức những bóng cành,
Đêm quê hương thương cái hương của đất…
 

Ngủ không được bởi gió nồm từ biển lên cứ nhắc
“Trọn mình anh đã nằm giữa lòng tôi
Khi má anh sinh ra
Anh đã thở hơi nước mắm ngon của vạn Gò Bồi
Nên tới già thơ anh còn được đậm đà thấm thía…”
Ngủ không được bởi nhớ cha tôi là thầy đồ Nghệ
Đem tôi theo ngồi dạy học các làng
Nghe bài chòi cắc cụp cắc ở chợ Tết xã Văn Quang.
Ôm cái cột đình làng Luật Bình rồng lượn…
 

Tim ta ơi, ta đố em ngủ được
Khi những buổi trưa của thuở nhỏ lại về…
Đi lượm xoài non rụng với khèo me
Một cái vườn hoang là một địa đàng cho mình khám phá
Có gì hơn mẹ với con, có chi bằng cơm với cá
“Lục lạc kêu rang rảng, bánh tráng bẻ dòn dòn”
Những ngọt bùi của quê má thân thương
Cái sân trường có trái vông đồng rụng xuống…
 

Bây giờ Tuy Phước rộng đồng tốt ruộng
Con đê ngăn mặn gió biển ru trời
Đập Thạnh Hoà kênh mương toả xanh tươi
Tiếng trạm bơm động ba hồ chứa nước
Một mảnh thịt của hồn ta – ôi Tuy Phước!
Bà Ngoại ta còn phảng phất ở đâu đây
Bánh ít lá gai, bánh ú mập đầy,
Hoa quả bốn mùa cũng từ ngoại mà ra tất cả…

Đêm ngủ ở Tuy Phước để mà không ngủ
Thức với quê hương như vậy đã vừa đâu
Xin thơ ta được thức mãi về sau.
Với Tuy Phước, ngày nào còn đất nước
                       (16/2/1982 – 25/2/1985 / Xuân Diệu)
Về Tuy Phước là về thăm quê ngoại, nơi anh được sinh ra và lớn lên bên dòng sông Gò Bồi bên bồi bên lở, từng nghe anh tâm sự “Từ lúc má tôi đẻ tôi ra ở cái vạn Gò Bồi làm nước mắm/ Một hạt muối trong tim để mặn với tất cả những gì đằm thắm/ Một cành lá trong hồn để biếc cùng muôn làng mạc của quê hương”(Miền Nam quê ngoại). Hạt muối mặn đằm thắm, cành lá biếc xanh cho tình yêu mỗi ngày thắp lên như hoa gạo đỏ mùa tháng ba trở về. Cùng bao vùng quê khác như An Nhơn, Tây Sơn thì Tuy Phước chỉ là một huyện trong tỉnh Bình Định nằm ở vùng hạ lưu sông Côn, nhận nước từ nguồn cho đất dai màu mỡ, là nơi tiếp tục khai dòng thông ra biển lớn. Và ai dám tự hào quê mình là vùng đất địa linh nhân kiệt, nếu từng ngày ta không biết vun trồng chăm sóc cho mỗi cây hoa người tỏa hương rồi tự khẳng định giá trị “ Người ta là hoa đất” (Tục ngữ) nâng niu thưởng thức:
Đêm ngủ ở Tuy Phước là để mà không ngủ
Những con dế cùng tôi thức suốt năm canh.
Thức những ngôi sao, thức những bóng cành,
Đêm quê hương thương cái hương của đất…

Vâng “Đêm ngủ ở Tuy Phước là để mà không ngủ” đâu riêng gì anh. Những con dế ngoài đồng ruộng kia, những ngôi sao xanh giữa bầu trời đêm lấp lánh, những bóng cành rợp mát chở che năm tháng đi qua mãi vô tận trong cảm xúc nhà thơ. Chính “Đêm quê hương thương cái hương của đất…” cho anh thức mãi những kỉ niệm về  hương vị của đất trào dâng theo ngọn gió nồm ấm áp nhắc nhở:
Trọn mình anh đã nằm giữa lòng tôi
                  Khi má anh sinh ra
Anh đã thở hơi nước mắm ngon của vạn Gò Bồi
Nên tới già thơ anh còn được đậm đà thấm thía
…”
Phải chăng nơi Vạn Gò Bồi thuở nào với Xuân Diệu là cái tình sâu đậm không thể nào quên! Bởi “trọn mình anh đã nằm giữa lòng tôi”. Dù có cách xa bao nhiêu tính theo chiều dài kilomet, nó là liều thuốc bổ thấm sâu cho đôi mắt anh trong sáng tinh tường, cho trái tim anh rộn ràng nồng thắm . Lòng biết ơn nhắc nhở : “ Ngủ không được bởi nhớ cha tôi là thầy đồ Nghệ/ Đem tôi theo ngồi dạy học các làng”.  “Cha tôi là thầy đồ” thầy làm nghề dạy chữ nho thời trước. Thầy đồ có gốc gác quê hương. Thầy đồ xứ Nghệ yêu lắm miền đất vạn Gò Bồi trù phú đã trở thành ruột thịt khi bước chân dừng lại nơi đây biết “ Gánh tên đất tên làng sau mỗi chuyến di dân”( Nguyễn Khoa Điềm). Nên coi việc tải đạo cho lớp trẻ là trách nhiệm vẻ vang chung của “thầy đồ”. Cái nôi làng quê bé nhỏ nhưng trong tầm nhìn tuổi thơ ngày nào, văn hóa làng xã in đậm dấu ấn khó phai: “Nghe bài chòi cắc cụp cắc ở chợ Tết xã Văn Quang/ Ôm cái cột đình làng Luật Bình rồng lượn…” Dù ở miền quê, chợ Tết rất nhiều trò chơi hấp dẫn lôi cuốn người xem, nhưng với tuổi thơ của cậu bé Bàng (tên thường gọi của Xuân Diệu lúc còn nhỏ) khi nghe bài chòi lại là sức thu hút mạnh mẽ nhất. Những câu hát dân ca bắt nguồn từ điệu hô trong cuộc, người hô thường ngồi trong các chòi tranh tre hễ bên này hô, thì bên kia đáp lại, chẳng hạn bên nữ vừa hô: “ Tiếng đồn anh hay chữ, cho em thử vài lời, ba mươi mùng một sao trời không có trăng?” vừa gõ thanh tre cắc cụp cắc kèm theo nhịp câu hô. Bên nam phải đáp lại, và nếu không đáp được là thua cuộc. Kích thích sự hào hứng hai bên cũng như những người tham dự. Nét đẹp trong sinh hoạt văn hóa nghệ thuật dân gian kích thích tư duy ứng xử. Muốn hô – đáp cân xứng là phải tìm hiểu vốn sống từ trong sách vở, thực tế thường ngày. Và nơi đây là điểm gặp gỡ giao lưu trai tài gái sắc nên duyên chồng vợ của ngày xưa ở Nam Trung bộ. Đến giờ còn duy trì ở chơ Gò Tuy Phước trong hai ngày mùng một và mùng hai Tết cổ truyền dân tộc. Tuổi thơ Xuân Diệu còn thích ôm cái cột đình làng Luật Bình rồng lượn như là một trò chơi leo lên tụt xuống, săm soi thích thú vì thấy nó lớn quá so với cột ở nhà, cũng có thể từ nếp“đất có lề” cần duy trì gìn giữ, cũng có thể phép vua vẫn thua lệ làng đó sao! Tất cả nườm nượp như khiêu khích:
Tim ta ơi, ta đố em ngủ được
Khi những buổi trưa của thuở nhỏ lại về…
Đi lượm xoài non rụng với khèo me
Một cái vườn hoang là một địa đàng cho mình khám phá
Có gì hơn mẹ với con, có chi bằng cơm với cá
“Lục lạc kêu rang rảng, bánh tráng bẻ dòn dòn”
Những ngọt bùi của quê má thân thương
Cái sân trường có trái vông đồng rụng xuống

Cái hồn của đoạn thơ trong bức tranh khắc họa một cậu bé bỏ cả ngủ trưa trốn cha, trốn mẹ cùng đám bạn đi lượm xoài non rụng, khèo me rồi hồn nhiên đưa lên miệng ngấu nghiến ngon lành. Những quả chua kích thích dịch vị thèm thuồng đến thế! Tha hồ tự do vui chơi, chuyện trò thỏa thích giữa cái vườn hoang không chủ. Sực nhớ mẹ vội chia tay bạn, quay về: “Có gì hơn mẹ với con, có chi bằng cơm với cá” là hơn cả. Trẻ con có bao giờ muốn xa mẹ. Vắng mẹ một chút là nhớ quay nhớ quắt làm sao. Chỉ có bàn tay mẹ dù tảo tần vất vả bao nhiêu vẫn dành thời gian chăm chút miếng ăn, dạy dỗ mọi điều tốt đẹp mong con khôn lớn nên người. Mẹ còn đeo vào chân con vòng tròn bằng bạc có cái lục lạc kêu rang rảng với ý nghĩ của người xưa trừ tà ma, con không phải bị giật mình để ngon giấc ngủ. Miếng bánh tráng mẹ mua về bẻ nhai dòn dòn thơm phức ngày ấy còn đọng lại đến giờ. Sao hết những ngọt bùi quê má thân thương được. Điều nhớ nhất là “Cái sân trường có trái vông đồng rụng xuống…”. Sân trường rộng với bóng cây vông tỏa mát cho tuổi thơ sau những giờ học trong lớp, là nơi tung tăng nô đùa cùng các bạn. Nhà thơ không gợi tả sắc đỏ hoa phượng mùa hè chia tay, hay sắc đỏ của hoa vông có lá xanh gói nem hay làm thuốc, Xuân Diệu chỉ nhắc đến trái vông đồng rụng xuống. Cho bọn con trai các anh tranh nhau lượm làm bánh xe chạy đua chơi, thú vị nào quên!
Tim ta ơi, ta đố em ngủ được” về hình ảnh thân thương gắn bó kỉ niệm đẹp ngày nào ùa về, quê ngoại đã từng nuôi dưỡng tâm hồn anh trong sáng quá. Những xúc động lòng biết ơn khi thở hơi nước mắm vạn Gò Bồi đến giờ phút trở về Tuy Phước trào dâng trong trái tim vốn nhạy cảm của anh:
Bây giờ Tuy Phước rộng đồng tốt ruộng
Con đê ngăn mặn gió biển ru trời
Đập Thạnh Hoà kênh mương toả xanh tươi
Tiếng trạm bơm động ba hồ chứa nước
Một mảnh thịt của hồn ta – ôi Tuy Phước!
Bà Ngoại ta còn phảng phất ở đâu đây
Bánh ít lá gai, bánh ú mập đầy,
Hoa quả bốn mùa cũng từ ngoại mà ra tất cả…
Niềm vui dào dạt trước cảnh yên bình hiện ra trước mắt. Đó là con đê Khu Đông chạy dài ngăn mặn từ biển tràn vào, có đập Thạnh Hòa kiên cố giữ nước tưới tiêu cho mùa lúa bội thu, cho hoa quả xanh tươi. Anh yêu quá Một mảnh thịt của hồn ta – ôi Tuy Phước! Anh đang tận hưởng màu xanh trải dài tiếp nối từ biển trời đến ruộng đồng nơi khúc ruột tình quê. Giờ còn đâu để gọi ngoại ơi như thuở nào, cho ngoại tận hưởng không khí trong lành như hôm nay. Lòng biết ơn ngoại đã sinh ra mẹ, lòng biết ơn mẹ đã sinh ra anh. Biết ơn tấm lòng những người phụ nữ nhân hậu, giàu đức hi sinh như ngoại, như mẹ cho Bánh ít lá gai, bánh ú mập đầy/ Hoa quả bốn mùa cũng từ ngoại mà ra tất cả….
Xuân Diệu đã thật với lòng mình:
Đêm ngủ ở Tuy Phước để mà không ngủ
Thức với quê hương như vậy đã vừa đâu
Xin thơ ta được thức mãi về sau.
Với Tuy Phước, ngày nào còn đất nước

Đêm ngủ ở Tuy Phước để mà không ngủ” Câu thơ được lặp lại từ khổ thơ đầu nào phải bộc bạch giải bày hay mong được sẻ chia. Chính cảm xúc rộn ràng trong trái tim “cậu bé” về thăm quê ngoại. Những náo nức tuổi thơ ùa về sao ngăn được. Những khởi sắc quê hương sau ngày thống nhất đất nước. Nên không ngủ, ngủ không được, đố em ngủ đượcthức suốt năm canh, thức những ngôi sao, thức những lá cành,thức với quê hương như vậy đã vừa đâu, rồi Xin thơ ta được thức mãi về sau. Phải chăng những trăn trở suy tư của tâm hồn nhạy cảm khát khao cuộc sống, tin yêu đủ đầy, trào dâng lên giữa quê nhà trong tứ thơ anh. Có sao nói vậy, nghĩ sao thì viết vậy, không hề giấu diếm điều gì. Tình trước sau vẫn như một. Cũng có thể là sâu sắc mặn mà hơn thế kia. Đấy là phong cách thơ Xuân Diệu nên từng con chữ, câu từ như con sóng dạt dào trân trọng “Hôn mãi ngàn năm không thỏa” niềm tự hào đất nước, trong đó Gò Bồi Tuy Phước chính là máu thịt ruột rà Anh. Nơi đã ươm mầm xanh tỏa hương kết trái cho người con Tuy Phước, Việt Nam: Xuân Diệu. “Đêm ngủ ở Tuy Phước” là thực tế được viết trong lần về thăm quê nhà. Cuối bài Anh ghi lại hai khoảng thời gian (16/2/1982 – 25/2/1985).
Người Tuy Phước nhớ Xuân Diệu là nhớ đến “Đêm ngủ ở Tuy Phước”, là Thức với quê hương mình.
14.12.2011/ Nguyễn Thị Phụng.

Read Full Post »

Tạp Bút

Trần Minh Nguyệt

 

 

            NHÀ THƠ LỚN XUÂN DIỆU – người con thân yêu của xứ Vạn Gò Bồi, Tùng Giàn –  Phước Hòa, Tuy Phước đã vĩnh biệt chùng ta thấm thoát đã 26 năm ! 26 lần tôi được dịp về đây – nơi căn nhà lưu dấu kỷ niệm cuộc đời và sự nghiêp thơ ca của Ông – để dâng nén tâm hương tưởng nhớ Ông trong nỗi thương tiếc, ngậm ngùi!

           Gần 70 năm có mặt với đời, và hơn nửa thế kỷ hiến dâng sự sống cho thơ ca – nhà thơ Xuân Diệu đã để lại cho chúng ta một sự nghiệp nghệ thuật to lớn,  và một niềm tự hào sống mãi với Quê Hương. Với 6 tác phẩm được xuất bản, hơn 470 bài thơ đã được giới thiệu- nhà thơ Xuân Diệu đã quặn lòng qua bao nỗi xúc động, đã thở vào thơ bao nhịp đập của trái tim Yêu Thương hồn nhiên và cuồng nhiệt, và đã nhỏ xuống trang thơ bao dòng nước mắt vì Quê Nhà và Dân Tộc…

           Nhà thơ Hàn MặcTử lúc sinh thời đã gởi tặng cho nhà thơ Xuân Diệu tập thơ đầu tay của ông, với lời ghi tặng như sau: “ Tôi gởi tặng Anh tập thơ của tôi, vì đọc thơ Anh tôi thấy nỗi đau của tôi được xoa dịu nhiều lắm! “. Nhà văn – nhà nghiên cưu văn học Hoài Thanh cũng đã viết về Xuân Diệu gần nửa thế kỷ trước trong tác phẩm “ Thi Nhân Việt Nam “ : “  Xuân Diệu là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới; nhà thơ đại biểu đầy đủ nhất của thời đại “ . Gần đây, học giả người Nga – ông Marian Tcasep cũng đã nhận định: “ Xuân Diệu khác với các nhà thơ khác ở chỗ thơ Anh thực tế, duyên dáng và nhạc điệu du dương, thánh thót. Trong thơ Xuân Diệu là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trữ tình và tính công dân cao cả! “.  Nhà thơ Xuân Diệu đã rất xứng đáng được các viện sĩ viện hàn lâm nước cộng hòa dân chủ Đức bầu là “ Viện sĩ thông tấn viện hàn lâm nghệ thuât nước CHDC Đức “ vào năm 1983, và vinh dự nhận lãnh danh hiệu cao qúy nhất của văn học nghệ thuật năm 1996 :  “Huân Chương Hồ Chí Minh”

            Suốt cuộc đời gắn bó với Thơ với bao đổi thay của vận nước – nhà thơ Xuân Diệu vẫn luôn trài lòng hiến dâng cho Tình Yêu, ca ngợi cuộc sống, niềm vui và đam mê sống. Viết về Tình Yêu –  là nhà thơ đã ca ngợi tuổi trẻ, ca ngợi mùa Xuân, ca ngợi thiên nhiên – bởi chính đó là tổ ấm, là cái nôi của Tình Yêu dành cho đời người:

          “… Anh xin làm sóng biếc

                  Hôn mãi cát vàng em

                  Hôn thật khẻ, thật êm

                  Hôn êm đềm – mãi mãi

 

              …Anh không xứng là biễn xanh

                  Nhưng cũng xin làm bể biếc

                   Để hát mãi bên gành

                   Một tình chung không hết “

                                 ( Biển )

 

             Trong bài thơ “Tình Thứ Nhất “, nhà thơ Xuân Diệu đã từng khẳng định:

           “ Anh chỉ có một tình yêu thứ nhất

              Anh cho em, kèm với một lá thư

               Em không lấy – và tình ta đã mắt

               Tình đã cho không lấy lại bao giờ “

             Và chúng ta hãy lắng lòng nghe nhà thơ tâm sự như lời trần tình thẳm sâu tận đáy lòng mình qua bài “ Vì Sao “ :

            “ …Rồi một ngày mai tôi sẽ đi

                Vì sao? Ai nỡ hỏi làm chi

                Tôi khờ khạo lắm, ngu ngơ qúa

                Chỉ biết yêu thôi – chẳng hiểu gì “

             Nhà thơ Xuân Diệu đã rất hồn nhiên với “ tình đã cho không lấy lại bao giờ “ và quá đổi chân thành trước cuộc sống “ Chỉ biết yêu thôi, chẳng hiểu gì “ . Qua 3 biến đổi trong đời thơ của Xuân Diệu –  nhưng chúng ta vẫn luôn nhìn thấy dòng thơ Ông mãi mãi là nổi khát khao mảnh liệt đến với cuộc sống, luôn hòa nhịp giao cảm với đời – làm nên những trang thơ bất tuyệt sống mãi với Quê Nhà và Tình Người!

            Tấm lòng thiết tha cao khiết ấy đã thể hiện rõ nét trong bài thơ Ông viết sau 30 năm được trở lại Quê Ngoại :

              “  …Ôi biển Qui Nhơn, biển đậm đà

                      Thuyền đi rẽ sóng, sóng viền hoa

                      Cám ơn quê má muôn yêu dấu

                      Vẫn ấp yêu hoài tuổi nhỏ ta “

           Và quê Mẹ Gò Bồi, Tùng Giản, Tuy Phước đã sống mãi trong thơ Ông với tuổi thơ dong ruổi đó đây, với bao kỷ niệm đằm thắm ngọt ngào bên Mẹ không bao giờ quên:

              “ …Buổi chiều trong bếp nấu cơm

                     Má đang lặt rau, lửa nhè nhẹ cháy

                     Một buổi chiều trong vườn sạch lá

                     Đất còn mang dấu chổi quét ban mai “

          Bài thơ “ Đêm Ở Tuy Phước “ là một trong những bài thơ viết về Quê Nhà hay nhất của Ông : Tuổi thơ, kỷ niệm, hòai vọng, ước mơ đã ùa về trong Trái Tim nồng nhiệt thương yêu của Ông như bao đợt sóng thân thương của xứ Van Gò Bồi thuở nào ngày đêm vẫn rì rào mời gọi :

             “ Đêm ngủ ở Tuy Phước là để mà không ngủ

                Những con dế cùng tôi thức suốt năm canh

                Thức những ngôi sao, thức những bóng cành

                Đêm quê hương thương cái hương của đất

            …Ngủ không được bởi gió nồm từ biển lên cứ nhắc

                  “ Trọn mình anh đã nằm giữa lòng tôi

                      Khi má anh sinh ra

                      Anh dã thở hơi nước mắm ngon của vạn Gò Bồi    

                      Nên thơ anh tới giờ vẫn còn đậm đã thấm thía “

              … Đêm ngủ ở Tuy Phước để mà không ngủ

                   Thức với quê hương như vậy đã vừa đâu

                    Xin thơ ta được thức mãi về sau

                    Với Tuy Phước, ngày nào còn đất nước “

             Sau những năm tháng đất nước được hoàn toàn thống nhất – dường như nhà thơ Xuân Diệu đã dành trọn thời gian viết về quê nhà, viết về Miền Nam, để khơi dậy những tình cảm, những kỷ niệm sâu sắc đã từng được ấp ủ, thao thức của mình. Đó là những hình ảnh đã được Ông chắt lọc qua nhiều năm tháng, để chỉ còn lại những gì thực sự là máu thịt, là rung động cho thơ.

            Ông đã tâm sự:

             “  Hãy để cho tôi được giả từ

                 Vẫy chào cõi thực để vào hư

                 Trong hơi thở chót dâng trời đất

                 Cũng vẫn si tình đến ngất ngư “

             Nhà thơ Xuân Diệu của chúng ta đã “ si tình “ đến “ hơi thở chót “ – theo nghĩa, đây là một “ khối tình lớn “ mà suốt đời Ông đã tận tụy hy sinh cho Quê Hương và Dân Tộc!

            Khái quát về cuộc đời và thơ của Xuân Diệu – nhà thơ Thanh Thảo đã viết rất chân tình:

               “ Anh quen sống như người nghèo đi chợ

                   Tính chi li từng phút từng giây

                   Khoèo câu thơ như thuở nhỏ khoèo me

                   Dọc phố hè Quinhơn lắm bui!(…) “

            Sau 26 năm ngày Xuân Diệu đi xa – hôm nay, ngày 18 tháng 12 năm 2011 – Tôi, người may mắn được sinh ra cùng quê hươngTuy Phước – kẻ hậu sinh yêu quý thơ Ông – thành kính tưởng nhớ Ông với đôi vần thơ góp nhặt trong sự nghiệp thi ca đồ sộ của Ông – để tỏ lòng ngưỡng mộ và tri ân, là những thế hệ tiếp bước Ông trên cùng quê hương Tuy Phước thân yêu. để cùng góp phần nhỏ dựng xây cho Quê Nhà ngày càng thêm khởi sắc, và giàu đẹp.

                  Xin kính dâng lên Người chút lòng của người em nhỏ đồng hương nhưng rất nặng tình nhân ngày giỗ thứ 26 của Người :

                   “ Bóng Người dù đã khuất xa

                      Nhưng tình còn mãi, đậm đà ngàn năm

                      Thơ Người là ánh Trăng Rằm

                      Sáng soi khắp nẽo tối tăm cuộc trần

                      Thơ Người “ thức mãi về sau “

                      Tháng năm hồ dễ thay mầu Trái Tim! “

 

 

Tưởng nhớ nhà thơ Xuân Diệu

Nhân ngày giỗ thứ 26

Phước hòa, ngày 18 tháng 12 năm 2011

 

Read Full Post »

Bình Định bấy giờ chỉ có một nhóm người mà các bạn yêu thơ do Trần Thống ở Kiên Mỹ đại diện, đặt tên là “Bàn Thành tứ hữu”. Nhóm thơ gồm có: Hàn – Chế – Yến – Quách. Bốn người này mang tên một con vật trong bộ Tứ linh. Hàn Mặc Tử là Rồng, Chế Lan Viên là Phượng, Yến Lan là Lân, Quách Tấn là Rùa.

Cửa Đông-thành Bình Định,

Bấy lâu nay, giới văn học thường nhắc đến nhóm thơ tiền chiến của Thành Đồ Bàn (tức Bình Định xưa). Vì biết tôi là con gái của “con Lân” trong nhóm “Tứ linh”, Có người hỏi: “Thế nào là Trường thơ Bình Định? Vì sao gọi các cụ ấy là Tứ linh?…”.

Theo sự hiểu biết hạn hẹp, qua những bức thư của bác Quách Tấn gửi cho ba tôi – nhà thơ Yến Lan – tôi xin phép thông tin lại để các bạn yêu thơ hiểu thêm về cái nôi thơ mà người đời thường tâm đắc “Bình Định là đất võ mà ẩn chứa trong mình những bí ẩn về văn chương”.

Trong bức thư đề  “Nha Trang lập xuân 88”, bác Quách bức xúc viết: “Rất tiếc là không có người có đủ tài, học, tâm, chí để cùng nhau khai thác kho tàng Văn hóa của Bình Định. Tôi nhận thấy phần đông anh em làm văn nghệ vì danh, vì lợi hơn là vì bổn phận thiêng liêng. An Nhơn có nhiều nhân vật văn học và lịch sử lắm, chú và anh em văn sĩ đừng phụ cổ nhân…”.

Theo bác Quách: “Không có Trường thơ Bình Định, chỉ có Trường thơ loạn gồm: Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Yến Lan. Trường thơ này không thể trở thành Trường thơ Bình Định được”.

Bình Định bấy giờ chỉ có một nhóm người mà các bạn yêu thơ do Trần Thống ở Kiên Mỹ đại diện, đặt tên là “Bàn Thành tứ hữu”. Nhóm thơ gồm có: Hàn – Chế – Yến – Quách. Bốn người này mang tên một con vật trong bộ Tứ linh. Hàn Mặc Tử là Rồng, Chế Lan Viên là Phượng, Yến Lan là Lân, Quách Tấn là Rùa.

Có câu thơ bằng tiếng Hán của Nguyễn Đức Sung:

Tấn bộ bồng lai lạc cảnh khoan
Hoan tình hội họp tứ thi lang
Trí hân khôi thỏa tâm hoài vọng
Lang phóng hương nồng nhập tiểu bang

Tạm dịch:

Tấn tới bồng lai vui cảnh tiên
Hoan tình họp mặt bốn hữu thi
Trí sáng đẹp lòng bao mong nhớ
Lan tỏa hương nồng nhập xứ men

(Ghi chú: Bốn chữ đầu của từng câu là tên của bốn nhà thơ nhắc tới trên. Hoan (Phan Ngọc Hoan) là tên thật của Chế Lan Viên, Trí (Nguyễn Trọng Trí) là tên thật của Hàn Mặc Tử).

Và người đầu tiên đưa tên của nhóm Tứ linh vào thi đàn thời bấy giờ là nhà phê bình văn học Hoài Thanh.

Còn tại sao ông Trí lấy bút danh Hàn Mặc Tử: Bút danh đầu tiên và cũng khá nổi tiếng của ông là Phong Trần. Nhưng nhiều người thấy dáng dấp thư sinh của ông nên trêu “người mảnh mai như cậu làm sao chịu đựng được phong trần, nó lại không hợp với vóc dáng của cậu”. Sau đó ông lại đổi là Hàn Mạc Tử (tức rèm lạnh).

Nhưng bác Tấn vẫn chưa chịu: “Đã có rèm thêm bóng trăng vào, hỏi còn cảnh nào nên thơ bằng”. Ông Trí ngẫm nghĩ rồi lấy bút ra vạch thêm vành trăng non vào đầu chữ A. Chỉ thêm một cái dấu mà nghĩa khác hẳn: Hàn Mạc Tử = Rèm Lạnh giờ thành Hàn Mặc Tử tức Bút Mực

Bút danh của chú Hoan ban đầu là Chế Bồng Hoan. Một hôm biết ba tôi sắp đi xuống Qui Nhơn để học, chú đến chùa Ông thăm, thấy trời tối mà ông nội tôi vẫn thắp đèn tưới cây, và ba tôi ngâm nga:

Rồi đây mỗi ngả một thân đơn
Con ngọn đèn xanh, cha mảnh vườn
Đêm lụi, đèn tàn ai gạt bấc
Vườn lan ai ấy tưới thay con.

Nghe xong chú Hoan cảm động quá nói: “Mình muốn làm một cái gì đó để kỷ niệm câu thơ của cậu”. Nghĩ một lát chú Hoan reo to: “À mình sẽ đổi bút danh thành Chế Lan Viên”. Ba tôi cũng thấy đó là ý hay nên đồng ý ngay. Và thế là từ đó trên thi đàn Việt Nam xuất hiện bút danh mới: Chế Lan Viên.

Về bút danh của ba tôi thì nhiều người biết rồi. Lúc đầu ông dùng bút danh có khi là Xuân Khai, có khi Thọ Lâm. Còn Yến Lan là tên ghép của hai giai nhân. Trong lớp ông dạy có hai cô gái trông khá xinh, chơi thân nhau, một tên là Yến, một là Lan. Họ thường thì thầm: “Tao, mày chơi thân với nhau như vầy sau này chỉ lấy một chồng”. Ba tôi nghe được thấy câu chuyện của hai người hay hay nên quyết định đổi bút danh Xuân Khai thành Yến Lan. 

Tuy xuất thân và trưởng thành từ Gò Bồi – Bình Định, nhưng nhà thơ Xuân Diệu ban đầu không nhập vào nhóm này. Bác Tấn nói vui: “Xuân Diệu đấm Hàn, thoi Yến, đá Quách, từ biệt quê hương để ra Hà Nội bắt tay với Huy Cận lập thành nhóm Huy – Xuân”.

Tại Thu Xà – Quảng Ngãi, nhà thơ Bích Khê lẻ loi, cô quạnh đành lui vào Bình Định cùng bốn chàng thi sĩ nọ lập thành nhóm Ngũ hành. Nhóm Ngũ hành tuy mới thành lập nhưng họ rất tâm đầu ý hợp. Chỉ có bác Tấn ở Nha Trang nhưng họ vẫn thường xuyên vào, ra để thăm nhau.

Ông cụ tôi tâm sự: “Bình Định là nơi phối hợp để thành quả trứng còn Nha Trang là lò ấp trứng. Tôi và các bạn đã gửi lại Nha Trang một thời tâm đắc và tuổi trẻ đam mê, làm sao quên được những ngày tháng cùng nhau học hỏi, vui chơi, nghiên cứu thơ đường, học chữ Hán”.

Một thời gian ngắn, Hàn Mặc Tử bị trọng bệnh rồi mất, ông hưởng dương 28 tuổi. Chẳng bao lâu sau Bích Khê lâm bệnh nặng (lao). Cả nhóm bàn đưa Bích Khê vào Nha Trang tìm cách nuôi nhau. Họ góp tiền thuê một nhà ở phường Củi cho Bích Khê ở.

Vì lòng tốt của bạn, được một thời gian Bích Khê lại lặng lẽ bỏ ra đi. Nhà thơ Nguyễn Đình đã tìm lại được Bích Khê. Sau khi bàn bạc kỹ, nhóm quyết định đưa ông ra Huế chữa trị và an dưỡng. Về kinh tế, tùy theo hoàn cảnh từng người mà góp tiền nuôi Bích Khê.

Chú Chế Lan Viên phải nuôi cha mẹ góp 10 đồng, bác Quách 20 đồng, chú Nguyễn Đình 20 đồng, vì không vướng bận gì nên ba tôi góp 30 đồng. Như vậy mỗi tháng nhà thơ Bích Khê nhận được 80 đồng, theo tôi biết đó là số tiền rất lớn, cơm tháng hồi đó chỉ có 4 đồng. Tất cả việc thu và gửi tiền ra Bệnh viện Paskiê cho chú Bích Khê đều do vợ bác Tấn đảm nhận.

Một thời gian sau ba tôi nhận được một lá thư viết bằng bút chì:

“Yến Lan

Mình rất cảm ơn cậu và các bạn đã chăm lo cho mình. Bây giờ mình không thể chịu đựng được nữa, mình đành vĩnh biệt cuộc sống, vĩnh biệt bạn bè”.

Thời gian sau, không biết năm nào nhà thơ Xuân Diệu trở về Bình Định, nhập vào nhóm Ngũ hành để thành nhóm Lục căn (Nhãn – Nhỉ – Tỷ – Thiệt – Thân – ý). Tôi không biết ai mang bí danh của những bộ phận này vì tên nhóm ít ai nhắc đến .

Trong nhóm này chú Xuân Diệu là khôn ngoan nhất, bác Quách Tấn thường trêu: “Thằng Diệu nó chẳng cho ai xem thứ gì khi chưa in thành chữ trên báo bao giờ”. Nhưng điều này bác lại cho là đúng và đó là kinh nghiệm quý báu trong sáng tác, vì thời gian sau này bác bị người khác đứng tên trong nhiều bài viết của mình!

Lâm Bích Thuỷ

Read Full Post »