Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘thành Hoàng Đế’

Thành Hoàng Đế là một địa điểm hai lần là kinh đô của hai tộc người, hai triều đại, trong hai thời kỳ lịch sử khác nhau. Do vậy, dù được khai quật khảo cổ nhiều lần, những tồn nghi quanh di tích này vẫn nối dài. Mới đây, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch mời Viện Khảo cổ học Việt Nam khai quật khảo cổ di tích thành Hoàng Đế lần thứ 5 với mục tiêu cụ thể: Xác định không gian “Tử thành” (thành con) để phục vụ công tác trùng tu tôn tạo.

Mô hình thành Hoàng Đế (theo tư liệu của GS. Phan Huy Lê) trưng bày ở Bảo Tàng Bình Định. Ảnh: N.T.Q

Từ 500 năm thành Đồ Bàn …

Theo thư tịch cổ, ngôi thành cổ này có rất nhiều tên gọi: Vijaya, Chà Bàn, Xà Bàn, thành Lồi, Đồ Bàn… Trong đó, tên gọi Chà Bàn được sử liệu Việt Nam ghi chép sớm nhất vào thời Lê (1403) và sử dụng nhiều nhất, một số sử liệu về sau gọi là thành Đồ Bàn. Sách Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú viết: “Sách Thiên Nam dư địa chí gọi là Chà Bàn, sau nhiều sách chép lầm là Đồ Bàn vì chữ Chà và chữ Đồ gần giống nhau”.

Năm thế kỷ vương quốc Champa định đô ở vùng Vijaya (TK XI-XV), chiến tranh nhiều lần chà xát khu vực này. Sau lần bị người Khơme tấn công vào cuối thế kỷ XII, kinh đô bị hủy hoại nặng nề. Đến năm 1832, để tránh cuộc xâm lược của quân Nguyên – Mông, người Chăm lại bỏ kinh thành chạy lên vùng thượng du. Cuộc chiến với nhà Trần và đặc biệt là nhà Lê của Đại Việt vào năm 1471 đã đưa Vijaya vào Đại Việt, thành Đồ Bàn chấm dứt vai trò lịch sử của nó với vương quốc Champa. Hiếm có kinh đô nào lại xây dựng, bị hủy hoại, rồi tu sửa, phục hồi nhiều lần như Đồ Bàn.

Về thành Đồ Bàn, thư tịch cổ cho biết: “Trong phủ có thành Đồ Bàn, là nơi vua nước Chiêm ở đó, lộng lẫy kiên cố nay dấu cũ hãy còn” (Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú); “Xã Phú Đa xưa có thành xây bằng gạch gọi là Đồ Bàn. Thành vuông mỗi bề dài một dặm, có 4 của. Trong thành có điện, có tháp. Điện đã bị đổ , tháp còn lại 2 tòa gọi là tháp con gái” (Thiên Nam tứ chi lộ đồ thư); “Thành cũ Chà Bàn ở địa phận 3 thôn: Nam Định, Bắc Thuận và Bả Canh về phía đông huyện Tuy Viễn, xưa là quốc đô của Chiêm Thành, chu vi 30 dặm, trong thành có tháp cổ, có nghê đá, voi đá đều là của người Chiêm Thành” (Đại Nam Nhất thống chí),…

Một đoạn thành ở rất gần miếu Song Trung, trong khu vực Tử Cấm thành. Ảnh: B.PHÙNG.

Đến Thành Hoàng Đế của Vương triều Thái Đức.

Khởi nghĩa Tây sơn giành thắng lợi, Nguyễn Nhạc đã chọn tòa thành cổ Đồ Bàn hơn 300 năm hoang phế để xây dựng kinh đô Vương triều Thái Đức (1778).

Sử cũ chép về Thành Hoàng Đế: “Nguyễn Nhạc nhân đất cũ của Chiêm Thành, sửa đắp thành Đồ Bàn, đào lấy đá ong thành Lũy, mở rộng cung điện” (Sách Lê Quí Dật Sử); “Tây Sơn Nguyễn Nhạc chiếm cứ thành này, nhân nền cũ xây đá ong tiến xưng là Thành Hoàng Đế” (Đại Nam Nhất Thống Chí); “Đồ Bàn có từ lâu đời, khắc phục tự nhà Trần, bị phá vỡ tự đời nhà Lê, khôi phục được từ nhà Tây Sơn, sau dần dần phá bỏ mà nay nền cũ vẫn còn…Niên hiệu Cảnh Hưng thứ 37, nhà Tây Sơn Nguyễn Nhạc năm thứ 4 bèn nhân nơi đó mà đóng đô, mở rộng cửa đông kéo dài đến 15 dặm, tường thành được đắp cao rồi xây bằng đá ong, bề cao đến 1 trượng 4 thước, bề dày 2 trượng, mở thêm 1 cửa thành ra 5 cửa, riêng phía trước có 2 cửa, bên tả là cửa Tân Khai, bên hữu là cửa Vệ môn…phía tây thành có đắp con đê đỉnh nhĩ để phòng nước lụt, phía Tây Nam có đàn Nam Giao để tế trời đất, bên trong thành xây thêm bức thành con, chính giữa dựng điện Bát Giác…phía sau là điện Chánh Tẩm (nhà chính), trước điện Bát Giác có lầu Bát Giác; hai bên dựng hai nhà thờ, bên tả thờ tổ tiên ông Nhạc, bên hữu thờ tổ tiên bà Nhạc; trước lầu Bát Giác có cung Quyển Bồng, hai bên có dãy hành lang là nơi làm việc; trước cửa cung có cửa Tam Quan cũng gọi là cửa Quyển Bồng, hay là cửa Nam Lâu mà cửa Vệ Môn đứng ở trước mặt” (Đồ Bàn Thành Ký Nguyễn Văn Hiển).

Theo Chapman, một thương gia người Anh khi đến thăm Nguyễn Nhạc vào giữa năm 1778 viết: “Tường thành phía Đông dài nửa dặm, không thấy có đại bác, lỗ châu mai, tháp canh gì cả. Cũng không thấy có lính canh ở cổng và trên tường thành”.

Đến năm 1799, Nguyễn Ánh chiếm thành Hoàng Đế đổi tên là thành Bình Định. Năm 1800, quân Tây Sơn vây thành, đến năm 1801 chịu không nổi trùng vây của quân Tây Sơn, hai tướng giữ thành của Nguyễn Ánh là Võ Tánh và Ngô Tùng Châu tự sát.

Năm 1802, quân Tây Sơn bỏ thành ra Bắc. Khi Gia Long lên ngôi, nơi đây trở thành dinh Bình Định rồi trấn Bình Định. “Năm Gia Long thứ 7 (1808) dời đến chỗ hiện nay (thôn Kim Châu và An Ngãi), năm thứ 14 đắp bằng đất, năm thứ 16 xây bằng đá ong” (Đồ Bàn Thành Ký Nguyễn Văn Hiển). Để xây thành Bình Định, nhà Nguyễn đã dỡ lấy vật liệu đá ong từ thành Hoàng Đế và xây lăng mộ Võ Tánh ngay trên địa điểm điện Bát Giác và lầu Bát Giác.

Cuộc khai quật lần trước giúp phát lộ hồ bán nguyệt trong khu vực Tử Cấm thành. Hy vọng những cuộc khai quật tới đây sẽ cung cấp thêm nhiều cứ liệu khoa học  giúp chúng ta hình dung rõ ràng hơn về tòa thành cổ này. Ảnh: B.PHÙNG.

Những tồn nghi nối tiếp

Trải qua bao cuộc biển dâu, việc bóc tách để phân biệt đâu là thành của người Chăm, đâu là của nhà Tây Sơn và đâu là của nhà Nguyễn là vấn đề không đơn giản, do đó tồn nghi nối tiếp tồn nghi.

Năm 1986, GS Phan Huy Lê cùng một số nghiên cứu sinh Đại học Tổng Hợp Hà Nội khảo sát thực địa di tích Thành Hoàng Đế và công bố Thành Hoàng Đế gồm 3 vòng thành: Thành Ngoại, thành Nội và Tử Cấm Thành. Tử Cấm Thành có cấu trúc hình chữ nhật, dài 174m, rộng 126m (khuôn viên Lăng Võ Tánh hiện nay).

TS. Lê Đình Phụng – Viện khảo cổ học Việt Nam, người chủ trì 4 đợt khai quật khảo cổ thành Hoàng Đế cũng xác định thành Hoàng Đế có 3 vòng thành: thành Ngoại, thành Nội và Tử Cấm Thành. Tuy nhiên Tử Cấm Thành có chiều dài 321m. Bởi vì dấu tích thành Đông và thành Tây Tử Cấm Thành nối dài ra phía Bắc. Mặt khác, thành Bắc Tử Cấm Thành (theo GS. Phan Huy Lê) và là tường Bắc lăng Võ Tánh hiện nay, xây sau thành Đông và thành Tây vì tường Bắc xây tiếp giáp với tường Đông và Tây bằng kỹ thuật gối đầu (không câu neo), kỹ thuật xây ghép đá ong thành Bắc khác thành Đông và thành Tây. Và TS, Lê Đình Phụng xác định thành Bắc Tử Cấm Thành là bờ Bắc thành Nội theo xác định của GS. Phan Huy Lê.

Năm 2009, Viện khoa học Công nghệ xây dựng phối hợp với Ban Quản lý di tích tỉnh đào thám sát kiểm tra các thông số kỹ thuật để lập thiết kế trùng tu, kết quả cho thấy: Bờ thành Bắc Tử Cấm Thành theo công bố của TS. Lê Đình Phụng không nối với thành Đông và còn kéo dài  về phía Đông, kích thước đá ong và tường thành Bắc đều lớn hơn kích thước đá ong và tường thành Đông và Tây hiện còn.

Vừa qua, trong quá trình phục hồi tường Đông, Tây và Nam Tử Cấm Thành (theo xác định của GS. Phan Huy Lê) đã phát hiện bờ tường Nam nối với tường Đông và tường Tây cũng xây gối đầu (không câu neo) và tường Nam cũng nối dài ta ngoài tường Đông và tường Tây hiện còn, kích thước tường Nam được phục hồi theo dấu tích chân tường hiện còn, có chiều rộng nhỏ hơn tường Đông và tường Tây.

Dấu gạch nối còn in bên ngoài góc Đông Nam bờ tường Tử Cấm Thành (thành Nam Kéo dài ra phía Đông Tử Cấm thành). Ảnh: N.T.Q

Điều đáng lưu ý ở đây là tất cả các tư liệu lịch sử để lại không có tài liệu nào nói cấu trúc thành Hoàng Đế có 3 vòng thành là: thành Ngoại, thành Nội và Tử Cấm Thành. Đây là mô hình thành Bắc Kinh của Trung Quốc. Tòa thành được sơn màu tím (tử) là nơi cấm địa, nên gọi là Tử Cấm Thành.

Trong Đồ Bàn Thành Ký của Hoàng giáp Nguyễn Văn Hiển chép về thành Hoàng Đế như sau: “…thành nội trúc tử thành….”, tạm dịch: “bên trong thành xây thành con”. Chữ “tử” ở đây nghĩa là “con”, chứ không phải tử là “màu tím”. Trong sách: Thành Hoàng Đế – kinh đô vương triều Tây Sơn, trang 154, TS. Lê Đình Phụng viết: “Về thành Hoàng Đế qua ghi chép của sử liệu (Đồ Bàn Thành Ký) cho thấy kinh đô vương triều Tây Sơn có 3 lớp vòng thành: Thành Ngoài, thành Trong (gọi là thành Nội), và thành Con (sau này gọi là Tử Cấm Thành)”.

Qua những tư liệu lịch sử viết về thành Đồ Bàn và thành Hoàng Đế nêu trên và những phát hiện mới những năm vừa qua, trong quá trình khai quật khảo cổ và phục hồi tường thành Hoàng Đế cho thấy rằng: Công bố của GS. Phan Huy Lê và TS. Lê Đình Phụng xác định về cấu trúc cũng như không gian của 3 vòng thành Thành Hoàng Đế còn nhiều điều tồn nghi. Hy vọng những cuộc khai quật tới đây sẽ cung cấp thêm nhiều cứ liệu khoa học  giúp chúng ta hình dung rõ ràng hơn về tòa thành cổ này.

(Theo baobinhdinh.com.)

NGUYỄN THANH QUANG

Read Full Post »

TTCT – Đập Đá (Bình Định) được mệnh danh là đất kinh đô các vương triều cũ, nổi tiếng với thành Đồ Bàn, thành Hoàng Đế…

 

Xe ngựa chở khách đi chợ, mỗi người vài ngàn đồng. Quần quật chở thêm hàng hóa, mỗi ngày thu nhập trung bình 100.000 đồng

Như còn vương lại từ những rêu phong xưa cũ, không biết từ bao giờ, một ngã ba ở thị trấn Đập Đá “chết danh” với cái tên Bến Xe Ngựa. Sáng tinh mơ hay chiều tà, những chuyến xe ngựa chở hàng hóa, người đi chợ, trẻ đến trường gõ lộc cộc trên những con đường làng, trên lối mòn thành cũ. Tiếng nhạc leng keng rung lên giữa làn sương mai, trong màu nắng chiều hôm trên thành Hoàng Đế là âm thanh du khách khó thể nào quên.

Tham quan khu quần thể di tích, văn hóa xưa ở Đập Đá, ngồi trên xe ngựa leng keng không khỏi xốn xang niềm hoài cổ: “Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo/Nền cũ lâu đài bóng tịch dương” (*).

Trước kia, mỗi ngày Bến Xe Ngựa có hơn cả trăm xe thường xuyên đứng bến, phân tổ chở khách, hàng hóa đi khắp nơi trong khu vực, nhất là người đi chợ tờ mờ sáng. Rồi bị những phương tiện thuận lợi hơn như xe ba gác, xe thồ, taxi thay thế, Bến Xe Ngựa dần vắng bóng xe. Chỉ còn một số xe vẫn gõ nhịp lốc cốc theo tình yêu của chủ nhân. Họ giữ nghề vừa để kiếm sống vừa giữ lại cho mình một niềm đam mê xe ngựa.

Mưu sinh trên xe ngựa bấp bênh, những ngày chợ phiên chạy được vài chuyến chở người dân đi chợ, chở hàng về làng và học sinh kiếm 100.000-200.000 đồng/ngày, ngày thường ít khách, một thời hoàng kim thổ mộ đã dần qua.

Ông Phạm Sáu, 70 tuổi, đã có hơn 50 năm chạy xe ngựa ở đây, trăn trở: “Vì mưu sinh nhiều người đã khóc khi bỏ xe ngựa chuyển sang nghề khác, họ đau buồn lắm. Xe ngựa khác với những xe chở hàng, nó biết yêu thương, gắn bó với chủ. Tôi và một số người bạn ở đây quyết giữ nghề cho đến hết thế hệ này. Chẳng lẽ bến xe ngựa lại không có ngựa?”…

Nguyễn Tiến Lợi, 17 tuổi, người trẻ nhất chạy xe ngựa ở bến này, tâm sự: “Không chỉ chở hàng, đi chợ, xe ngựa bây giờ còn làm được du lịch, quảng bá hình ảnh quê hương nên tôi nghĩ nếu mình biết khai thác thì nghề xe ngựa rất hấp dẫn và có thu nhập tốt”.

 

Xe ngựa “đổ xăng” bằng cỏ, chủ luôn chở theo dưới xe một thùng cỏ để khi nghỉ ngơi ngựa lót dạ. Chân ngựa bao giờ cũng được đóng đế bằng sắt để tạo độ bám khi di chuyển
Khách hàng thân thuộc nhất của xe ngựa là những người đi chợ phiên
Xen lẫn với phương tiện vận tải hiện đại, xe ngựa vẫn giữ một giá trị khó thay thế
Chủ rất yêu quý ngựa, xem ngựa như bạn bè. Để ngựa đẹp hơn, chủ phải tắm rửa, cắt tỉa lông, chăm sóc ngựa hằng ngày
Những chuyến xe ngựa đợi khách ở Bến Xe Ngựa. Xe ngựa cũng được quy định xuất bến theo thứ tự
Nam thanh nữ tú rất thích thú khi đi xe ngựa

TRƯỜNG ĐĂNG

__________

 

Read Full Post »

Cứ đêm đêm hòn đá lại lăn lông lốc từ cửa kinh thành đến đập vào cửa nhà từng viên quan có chức sắc, từ hòn đá phát ra lời đòi mạng thống thiết
Để trở thành một địa điểm được nhiều người dân coi là linh thiêng, “hòn đá oán hờn” trong ngôi chùa Thập Tháp Di Đà (Thường gọi là chùa Thập Tháp) ở Bình Định có lẽ đã “góp công lớn” vì những truyền thuyết nửa thực nửa hư về nó được người trong vùng truyền tụng đời này qua đời khác. 200 năm đã trôi qua, hòn đá trắng lạ kỳ vẫn trơ trơ giữa sân chùa, vừa như một điểm nhấn cho cảnh quan, vừa như một chứng tích lịch sử.Chứng tích lịch sử

Ngôi chùa nằm ở phía Bắc thành Đồ Bàn, nay thuộc địa phận thôn Vạn Thuận (xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn, cách TP.Quy Nhơn gần 30km và cách quốc lộ 1A khoảng 100m). Du khách đến vãn cảnh chùa nếu hỏi chuyện sẽ được các nhà sư ở chùa Thập Tháp kể cho nghe những câu chuyện ly kỳ, huyền bí liên quan đến những dấu tích lịch sử còn sót lại trong ngôi chùa cổ tự này.

Chuyện kể rằng, hơn 200 năm trước đây, khi chúa Nguyễn Ánh chiếm được thành Hoàng Đế, liền sau đó ông ta đã mở cuộc trả thù tàn khốc, nơi đổ máu đầu rơi nhiều nhất chính là chốn kinh đô xưa. Lúc ấy, Nguyễn Ánh chiêu dụ những người trong hoàng tộc nhà Tây Sơn ra đầu thú với lời hứa hẹn sẽ không trả thù; ai bị trọng tội thì hình phạt cao nhất là đày vào miền Nam khai khẩn đất mới; ai có tài sẽ được trọng dụng.

Để tránh phải sống chui lủi “ngoài vòng pháp luật”, rất đông người có quan hệ dòng tộc với nhà Tây Sơn ra trình diện. Nhưng ngay sau đó, Nguyễn Ánh trở mặt nuốt lời, mang ra chém đầu bất kể già trẻ lớn bé “những kẻ thù xưa” rồi chôn tập thể.

Đao phủ của Nguyễn Ánh kỳ công đi khắp các vùng, rồi tìm được một hòn đá lớn màu trắng tinh khôi mang về dùng để kê đầu các nạn nhân. Tảng đá ấy được đặt ngay cổng thành Hoàng Đế, quân lính và đao phủ đưa nạn nhân lên đó mà chém. Hàng trăm kiếp người đã từ giã cõi đời trên hòn đá này, nỗi oán hờn của người dân với bạo chúa chất cao như núi.

Nỗi oan khất, đau đớn của hàng trăm người như lặn vào tảng đá kia khiến sau đó, khi đã xong nhiệm vụ hành hình, dù bao nhiêu quân lính cũng không thể nhích hòn đá ấy rời khỏi chỗ đã giết những người vô tội. Truyền thuyết kể lại rằng, hàng đêm người ta nghe trong tảng đá vẳng ra tiếng than khóc ai oán, người dân và cả quan quân nhà Nguyễn Ánh không ai dám đi ngang nơi cổng thành.

Hòn đá kỳ lạ chất chứa căm hờn của hàng trăm người dân đối với bạo chúa Nguyễn Ánh

Dân gian thêu dệt nên câu chuyện, cứ đêm đêm hòn đá lại lăn lông lốc từ cửa kinh thành đến đập vào cửa nhà từng viên quan có chức sắc, từ hòn đá phát ra lời đòi mạng thống thiết. Cả vùng bất ổn, không chỉ những quan lại trong triều mà người dân sống quanh thành (nay thuộc xã Nhơn Hậu, huyện An Nhơn) cũng sống không yên. Quan lại sợ hãi, lập đàn cầu siêu giải oan nhưng đâu lại vào đấy.

Một ngày nọ, vị cao tăng trụ trì chùa Thập Tháp đến thành xin được lập đàn cầu siêu để giải nỗi oan khuất tày trời, lấy lại sự yên bình cho người dân trong vùng. Mừng như bắt được vàng, quan quân trong triều đón tiếp vị sư rất long trọng. Sau 3 ngày đêm kinh kệ, vị sư xin được mang hòn đá kia về chùa Thập Tháp. Kỳ lạ thay, lúc này chỉ cần 4 người khiêng nhưng hòn đá được chuyển đi nhẹ tênh, khác với việc trước đó cả trăm quân lính hè nhau di chuyển đi mà đá không nhúc nhích.

Hòn đá oán hờn

Các vị sư trong chùa kể lại, hòn đá được mang về đặt cạnh cây thị cổ thụ 300 năm tuổi nằm phía Nam tường thành của nhà chùa và được đặt tên là Hòn Đá Chém. Thế nhưng đã về đến cửa Phật mà nỗi oan khiên trong Hòn Đá Chém vẫn còn vất vưởng.

Nhà sư Mật Hạnh, người đã nhiều thập kỷ gắn bó với ngôi chùa kể lại, ngày xưa khi ông mới đôi mươi, vào những đêm mùa đông, trong thời tiết âm u, có lúc ông loáng thoáng nhìn thấy một phụ nữ mặc áo cụt trắng, quần đen bước ra từ hòn đá kia rồi đi đến chỗ đặt tấm bia di tích của nhà chùa. Khi chó trong chùa sủa ran là bóng người phụ nữ kia biến mất.

Nhà sư Mật Hạnh cười: “Thực sự thì cũng không dám khẳng định đó là ma hay chỉ là ảo ảnh. Cũng có khi do nghe nhiều truyền thuyết về hòn đá quá nên tưởng tượng ra ma quái mà thôi”.

Thời gian sau, vị cao tăng trong chùa có tên Phước Huệ một lần nữa chuyển Hòn Đá Chém vào để ngay bậc tam cấp bước vào khu Phương Trượng của chùa. Đêm đầu tiên chuyển hòn đá vào chùa, nhà sư Phước Huệ đang ngon giấc thì thấy có một vị mặc trang phục võ tướng hiện hình nói rằng: “Ông ỷ là đệ tử nhà Phật nên phá nhà tôi hả?”.

Nhà sư Phước Huệ hét to một tiếng khiến tất cả sư đệ trong chùa đều nghe thấy lao đến, mới biết sư phụ mình nằm mơ. Cũng có thể đó chỉ là nội dung những truyền thuyết được nghe trong ngày, đêm đến ám ảnh cả vào trong giấc mơ.

Người trong chùa còn lưu truyền lại những câu chuyện ngày xưa, những đêm nhà chùa tổ chức cúng hành binh, hành khiến hàng năm vào lúc nửa đêm 30 tháng Chạp, rạng sáng ngày mùng 1 Tết Nguyên Đán. Bàn thờ cúng được đặt ngay chánh điện, nơi đặt Hòn Đá Chém bên dưới. Trong mỗi lần cúng, đến khi đổ 3 hồi trống chiến là tự nhiên có một dải lụa trắng, tỏa ra ánh hào quang sáng rực xuất hiện bay lượn ngang chánh điện một lần rồi biến mất.

200 năm đã trôi qua, Hòn Đá Chém vẫn còn yên vị ngay cửa khu Phương Trượng của chùa Thập Tháp, cao khoảng 40cm, dài 1,5m, rộng 1,3m, 4 góc được đẽo 4 nét hoa văn đơn giản nhưng trải qua bao nhiêu vết bụi của thời gian, những hòn đá vẫn giữ được màu trắng sáng tuyệt đẹp của loại đá trắng không tì vết. Nếu không được kể chuyện về nó, thoạt trông không ai có thể ngờ trong hòn đá hiền hậu kia đã chứa biết bao nỗi oan khuất của hàng trăm mạng người là nạn nhân của bạo chúa Nguyễn Ánh ngày xưa.

Hòn đá chứng nhân lịch sử, lại gắn liền với nhiều truyền thuyết như thế nhưng không được thờ cúng, nay giản dị làm một bậc tam cấp cho người ta bước chân qua. Những nhà sư trong triều cho biết, oan khuất rồi cũng đã đi qua.

Ngày xưa khi dời hòn đá từ cổng kinh thành về chùa, người ta cũng chỉ có mục đích mong mỏi lớn nhất là làm dịu đi những oán hờn của người oan trái chứ không có mục đích dời hòn đá về đây làm vật thờ cúng. Đá lại trở về với công dụng của đá, ngày ngày du khách bước chân qua để nhớ lại bài học ngày xưa bạo chúa Nguyễn Ánh vì nuốt lời tàn độc nên cuối cùng đã phải trả giá đắt khi vương triều lụn bại, phải nhận một cái chết tức tưởi và bị lịch sử muôn đời coi như đối tượng “rước voi về giày mả tổ”.

Hòn đá oán hờn ngày xưa nay thành hòn đá hiền hòa, thành hòn đá xinh đẹp, thành hòn đá nâng niu bước chân du khách.

Trong tất cả những ngôi chùa ở miền Trung được xây cất từ thời các chúa Nguyễn, thì chùa Thập Tháp là chùa cổ nhất thuộc phái Lâm Tế. Chùa Thập Tháp là một trong 5 ngôi chùa của tỉnh Bình Định được chép vào sách Đại Nam Nhất Thống Chí với lời đánh giá: “Chùa này cùng chùa Linh Phong đều nổi tiếng là danh thắng”.Chùa được xây dựng trên một gò tương đối rộng hình mai rùa có chu vi gần 1km gọi là Gò Thập Tháp. Tên gọi này bắt nguồn từ chỗ nơi đây xưa kia có 10 ngọn tháp do người Chàm xây để “yểm hậu” cho thành Vijaya. Vào năm Quý Hợi niên hiệu Chính Hòa thứ 4 nhà Lê (1683), một ngôi chùa khang trang được hưng công xây dựng mà vật liệu chính là gạch đá lấy từ mười ngôi tháp Chàm đã bị đổ.

Cho đến ngày nay, trải qua nhiều lần trùng tu, tái tạo, cái cũ và cái mới đan xen nhưng chùa vẫn giữ được tổng thể hài hòa, tôn nghiêm cổ kính. Năm 1990, Chùa Thập Tháp được Bộ Văn hóa (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao, Du lịch) công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia.

Theo Pháp luật & Thời đại

Read Full Post »