Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘Quách Tấn’

LỘC XUYÊN ĐẶNG QUÝ ĐỊCH

Từ năm 1965, Quách Tấn biên soạn tập Nước non Bình Định1, có viết Tổ mộ họ Trần ở Hoài Ân: “Mộ nằm trong ấp Vạn Hội thuộc xã Ân Tín. Trên một nấm gò cao trước mộ, dựng một tấm bia xây bằng đá, mặt khắc chìm bốn đại tự TRẦN GIA TỔ CƠ. Đó là ngôi tổ mộ của Trần Quang Diệu, theo lời con cháu họ Trần ở Hoài Ân… Truyền rằng người nằm dưới mộ là một vị Thượng thư quán Hoài Ân… Mộ phát đến ba đời quan lớn, Trần Quang Diệu là đời cuối cùng.

 
Bia Tổ mộ họ Trần ở Ân Tín, Hoài Ân.

 

Nhà Tây Sơn bị diệt, nhà Nguyễn lên ngôi Cửu Ngũ. Nhà họ Trần sợ, đốt hết giấy tờ thời trước. Tập Gia phả phái họ Trần ở Bình Định cũng thành mây khói. Tuy vậy, con cháu họ Trần không bị nhà Nguyễn làm tội, suốt mấy triều vua từ Gia Long đến Khải Định, mỗi năm nhà họ Trần cứ mùa Thu thì tảo mộ và mùa Xuân thì cúng kỵ. Mỗi lần cúng, hạ một trâu, hai bò và bốn heo…

Năm 1987, Tiến sĩ Vũ Minh Giang đã đến tận xã Ân Tín, huyện Hoài Ân để xác minh: “Quả thực, địa phương này còn có một họ Trần khá lớn. Dòng họ có từ đường riêng, có gia phả và còn mộ tổ, trên bia có khắc bốn chữ TRẦN GIA TỔ CƠ. Tuy nhiên, dòng họ Trần ở đây không hề biết tới Trần Quang Diệu và trong các tài liệu của gia đình không hề chép đến một người nào đó tên như vậy. Qua điều tra đối chứng và xác minh tại chỗ có thể loại trừ khả năng quê Trần Quang Diệu ở ấp Vạn Hội thuộc xã Ân Tín…

Và năm 1978, Giáo sư Phạm Văn Diêu ở TP. Hồ Chí Minh có cho chúng tôi biết con cháu Trần Quang Diệu và người tộc trưởng còn giữ gia phả (có ghi chép về Trần Quang Diệu) hiện sinh sống ở thôn Tú Sơn, xã Đức Lân, huyện Mộ Đức, tỉnh Nghĩa Bình, chúng tôi đến tận địa phương này trong đợt khảo sát tháng tư năm 1987…

Qua điều tra nghiên cứu ở Tú Sơn (xã Đức Lân, huyện Mộ Đức) có thể thấy rằng Trần Quang Diệu quê ở thôn Kim Giao, xã Phổ Thuận, huyện Đức Phổ, tỉnh Nghĩa Bình. Dòng họ này đến đời thứ 4 (ông Trần Văn Chẩn) mới dời đến Tú Sơn khai khẩn đất ruộng, sinh cơ lập nghiệp (về mặt địa dư, tuy Đức Lân và Phổ Thuận nay thuộc hai huyện khác nhau nhưng cách nhau không  xa). Họ Trần ở Kim Giao và Tú Sơn thường xuyên qua lại với nhau và cùng thờ Trần Quang Diệu 2.

Mùa xuân năm Tân Mão (2011), ông Trần Văn Qui ở thôn Vạn Hội 2, xã Ân Tín, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định, tự nhận là hậu duệ Tây Sơn Danh tướng Trần Quang Diệu, mang tập TRẦN TỘC GIA PHẢ bằng chữ Hán đến nhờ tôi phiên dịch. Tập Gia phả này có thể không xưa bằng các tập Gia phả họ Trần ở Quảng Ngãi như ông Vũ Minh Giang đã viết nhưng được viết từ năm 1891, cách nay (2011) 120 năm. Tôi xin sơ bộ giới thiệu tập Gia phả như sau:

 

Tập Gia phả có 28 tờ, gấp đôi thành 56 trang.

Tờ 1: Phiên âm:

TRẦN TỘC GIA PHẢ

Đệ nhất phái phụng thủ

Dịch nghĩa:

GIA PHẢ HỌ TRẦN

Phái thứ nhất kính giữ

Tờ 2a: Phiên âm:

Hoàng triều Thành Thái tứ niên

Trọng Xuân kỷ phả

Dịch nghĩa:

Triều nhà Nguyễn Gia Miêu,

niên hiệu Thành Thái thứ 4 (1892),

tháng 2, chép Gia phả.

Tờ 2+3: Phiên âm:

Tộc phả nguyên tự

Dịch nghĩa:

Bài Tựa nói nguyên do viết phả họ.

Cuối bài Tựa cho biết họ tên, tự, hiệu người trùng tu cựu phả và tục biên tân phả, phiên âm: Hậu sanh, Hoài Ân châu tri châu, Lương Khê, Huệ, Địch Cát Phủ, đốn thủ cẩn chí, bài thư vu lị xá.

Dịch nghĩa: Kẻ sinh sau là (Trần Văn) Huệ, tự Lương Khê, Địch Cát Phủ, chức Tri châu châu Hoài Ân, cúi đầu lạy, kính cẩn viết tại nhà riêng ở nơi làm việc.

Tờ 4: Phàm lệ (có 5 điều)

Từ tờ 5 đến hết tờ 28: Phả họ

Phả họ chép từ ông Cao tổ Trần Văn Tuấn, chức Thượng thư Bộ binh, tước Hằng Đức hầu.

Trong bài Tựa (tờ 2+3), ông Trần Văn Huệ đã viết, tôi dịch như sau:

Họ Trần ta vốn dĩ là người ở huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Kể từ lúc chúa Tiên Nguyễn Hoàng được vua Lê cho giữ từ đèo Ngang trở vào Nam (từ năm 1558) thì ông Thủy tổ họ Trần ta, tước Vân Long hầu, đã theo phò Tiên chúa Nguyễn Hoàng mở mang bờ cõi. Ông Vân Long hầu họp dân khai phá từ ải Hải Vân đến các nơi đồi cao, chân núi, lập tình làng xóm, tức xã Vân Khuất, nay thuộc tỉnh Quảng Nam. Xã ta (Vân Khuất) thờ ông Vân Long hầu làm Tiền hiền, làm Thành hoàng, làm ông tổ đầu tiên khai lập đất này.

Ông tổ đời thứ ba kế thừa tổ nghiệp.

Cho đến đời chúa Võ vương Nguyễn Phúc Khoát (1738 -1765) thì ông Cao tổ Trần Văn Tuấn, tước Hằng Đức hầu, theo mẹ vào Nam, đến nơi đất tốt là huyện Bồng Sơn thuộc phủ Hoài Nhơn (huyện Bồng Sơn thời ấy nay là ba huyện Hoài Nhơn, Hoài Ân, An Lão; phủ Hoài Nhơn thời ấy, nay là vùng đất thuộc tỉnh Bình Định, L.X. chú). Từ ấy đến nay, trong họ Trần ta đời nào cũng xuất hiện những người làm quan nổi tiếng danh thần, làm tướng nổi danh lương tướng, làm nên thành tích vĩ đại, công cán to lớn, tên chép trong sử xanh, người trong châu khen ngợi “ông ở ngụ” và xưng tụng họ Trần ta là “cự tộc” (họ lớn).

Về ông Trần Văn Tuấn, gia phả chép ở trang 5b, tôi dịch như sau:

Ông Cao tổ họ Trần, tên kiêng cữ là Tuấn, chức Thượng thư Bộ Binh, tước Hằng Đức hầu.

Sanh năm Tí. Mất năm Mùi, tháng chạp ngày 7.

Phu nhân: Cao Thị Mè.

Ông tuổi thơ cha chết, theo mẹ vào Nam. Thời chúa Võ vương Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765), làm quan đến chức Hàn Lâm tri chế cáo, mông ơn chúa biết tài thăng đến chức Đại Tư mã (tức Thượng thư Bộ Binh dưới thời nhà Nguyễn Gia Miêu). Đến đời Định vương Nguyễn Phúc Thuần (1765-1775), năm Giáp Ngọ (1774), tháng 10, chúa Trịnh Sâm sai Hoàng Ngũ Phúc đem quân thủy bộ hơn ba vạn vượt sông Gianh vào đánh xứ Đàng Trong. Ông vâng mệnh đem quân chống cự nhưng quân Trịnh quá mạnh, Thuận Hóa thế cô nên bị bại. Ông vâng mệnh đến bản doanh Hoàng Ngũ Phúc cầu hòa nhưng không xong bèn mật tấu lên Định vương rồi hộ vệ chúa lánh vào Quảng Nam. Chính dinh Phú Xuân bị quân Trịnh chiếm. Sau đó, ông hộ vệ chúa theo đường thủy vào Gia Định…

Sinh hạ:

Trưởng nam: Trần Văn Trạc

Trai thứ hai: Trần Văn Bạt

Trai thứ tư: Trần Văn Đức (mất sớm)

Trai thứ năm: Trần Văn Điện

Nữ: Thị Nhân, Thị Hảo.

Ngụ quán của ông Trần Văn Tuấn là ấp Vạn Hội huyện Bồng Sơn, nay là thôn Vạn Hội I và thôn Vạn Hội II, xã Ân Tín, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định. Mộ ông tại thôn Vạn Hội I. Trước mộ có bia đá khắc bốn đại tự TRẦN GIA TỔ CƠ. Có Từ đường tại thôn Vạn Hội I do tộc trưởng Trần Sử giám phụng. Con cháu họ Trần rất đông, đều ở trong xã Ân Tín.

Tờ 6 chép về Trưởng nam của ông Trần Văn Tuấn là ông Trần Văn Trạc. Ông Trạc phò chúa Nguyễn vương Phúc Ánh lập nhiều công lớn, từng làm chức Tham tri Bộ Hình, rồi làm Trấn thủ dinh Quảng Nam. Đại định rồi, Nguyễn vương lên ngôi vua Gia Long. Năm 1802, triều đình lập 6 Bộ, ông là người đầu tiên làm Thượng thư Bộ Lại, Bộ quan trọng nhất triều đình. Ông mất năm Gia Long thứ 8 (1809), được tặng chức Tham Chánh. Cho đưa quan cữu về mai táng ở Vạn Hội, cấp tự điền và mộ phu.

Tờ 7a chép về trai thứ hai của ông Trần Văn Tuấn là Trần Văn Bạt. Ông Bạt phò Hoàng Tôn Dương vào Gia Định. Sau đánh nhau với quân Tây Sơn, Hoàng Tôn Dương bị bắt rồi bị giết, ông chết tại trận được tặng Thị Độc học sĩ.

Tờ 7b chép về trai thứ ba của ông Trần Văn Tuấn là Trần Văn Hiên. Ông Hiên phò Nguyễn vương Phúc Ánh, làm chức Tham mưu. Ông nhận mật lệnh của Chúa về vùng Tây Sơn chiếm đóng mà tổ chức nghĩa quân rồi đem nghĩa quân đến nơi Chúa Nguyễn đóng quân mà giúp Chúa. Cơ mưu bị tiết lộ, ông bị quân Tây Sơn giết, sau Gia Long truy lục công thần, con cháu ông được miễn thuế thân.

Tờ 8a chép về trai út của ông Trần Văn Tuấn là Trần Văn Điện, phiên âm: Binh bộ công chi quý tử: Đệ tứ phái, Hiển tằng tổ xử sĩ Trần húy Điện. Sanh niên …, Tốt niên … nhị nguyệt thập nhật. Vi nhân thất tường. Thê …

Nam: Văn Kê, Nam tử nhất nhân.

Dịch nghĩa: Con trai út của ông Thượng thư Bộ binh Trần Văn Tuấn là ông cố họ Trần, tên kiêng cữ là Điện, là nhà Nho lánh đời, không làm quan.

Sanh năm…, Mất năm …, tháng 2 ngày 10. Vợ …

Ông là người như thế nào, mất cả dấu vết nên không rõ.

Sinh hạ một trai là Trần Văn Kê.

Người họ Trần ở Vạn Hội xưa nay mật truyền rằng, Trần Văn Điện chính là Trần Quang Diệu, danh tướng nhà Tây Sơn, chức Thiếu phó triều Cảnh Thịnh.

Nửa sau trang a tờ 12, viết về con ông Trần Văn Điện là Trần Văn Kê, phiên âm: Đệ tứ phái, Hiển tổ khảo Nông nghiệp Trần, húy Kê. Sanh niên…, Tốt niên…, tư nguyệt thập nhật. Thê: Thị Cư. Vi nhân vị tường.

Trưởng nam: Văn Thịnh (vô tử)

Thứ nam: Văn Dược

Nữ: Thị Hạnh

Dịch nghĩa: Phái thứ tư, ông Nội làm nông họ Trần, tên kiêng cữ là Kê. Sanh năm:…, Mất năm… tháng 4 ngày 10. Vợ: Thị Cư. Ông là người thế nào, chưa rõ. Sanh hạ:

Trai trưởng: Văn Thịnh (không con)

Trai thứ: Văn Dược

Con gái: Thị Hạnh

Ông Trần Văn Qui bảo tôi rằng: “Các bậc trưởng lão trong họ đều nói Gia phả không ghi tên Trần Quang Diệu mà ghi Trần Văn Điện là cần che dấu người con là Trần Văn Kê. Nếu nói rõ ra thì Trần Văn Kê không khỏi bị giết để không còn người trả thù”. Ông Qui nói tiếp: “Vua Gia Long từng tuyên bố “Vì mười đời mà báo thù” nên đã chém ông Thiếu phó Trần Quang Diệu, cho voi chà bà Đại Đô đốc Bùi Thị Xuân, người con gái mới 15 tuổi cũng chịu cực hình như mẹ. Nếu họ bắt được người con trai là Trần Văn Kê thì họ cũng giết luôn chứ không tha. May mắn là ông Kê không bị bắt nên dòng dõi danh tướng Trần Quang Diệu mới còn người sống sót và con cháu hiện còn ở Vạn Hội.”

Những điều trên, ông Trần Sử đã kể cho ông Quách Tấn từ những năm 50 của thế kỷ trước nên ông Tấn mới đưa vào sách Nước non Bình Định xuất bản năm 1965. Năm 1987, ông Vũ Minh Giang có về Vạn Hội, có hỏi ai hay không thì tôi không biết, nhưng ông chép: “Dòng họ Trần ở đây không hề biết tới Trần Quang Diệu” là không chính xác.

Tôi cũng nhận thấy rằng, ông Vũ Minh Giang đã đọc bài “Mộ Tổ họ Trần” trong sách Nước non Bình Định của Quách Tấn, đã biết họ Trần ở Vạn Hội có Gia phả mà không tìm đọc lại kết luận rằng: “…loại trừ khả năng quê Trần Quang Diệu ở ấp Vạn Hội thuộc xã Ân Tín”. Hơn nữa ông mới đọc bản Gia phả bằng quốc ngữ do ông Trần Thắng mới soạn, chưa đọc những Gia phả xưa bằng Hán tự mà kết luận: Tây Sơn danh tướng Trần Quang Diệu quê ở thôn Kim Giao, xã Phổ Thuận, huyện Đức Phổ, tỉnh Nghĩa Bình (huyện Đức Phổ nay thuộc tỉnh Quảng Ngãi) là vội vàng. Gia dĩ ông cho biết trong quyển Gia phả của ông Thắng có chép hậu duệ của Trần Quang Diệu là Trần Mạnh, Trần Nhì không hề dấu diếm mình là con cháu Tây Sơn danh tướng Trần Quang Diệu mà không bị nhà Nguyễn Gia miêu làm hại là điều lạ! Phải chăng Trần Quang Diệu ở Kim Giao và ở Tú Sơn đều thuộc tỉnh Quảng Ngãi chỉ là người trùng tên với Tây Sơn danh tướng Trần Quang Diệu?

Tôi không dám vội vàng kết luận quê hương Tây Sơn danh tướng Trần Quang Diệu ở đâu, nay sơ bộ giới thiệu mấy trang trong Trần tộc Gia phả của Trần Văn Huệ để giới học giả rộng đường nghiên cứu.

LỘC XUYÊN ĐẶNG QUÝ ĐỊCH

Theo tạp chí Văn hóa Bình Định

 

Ghi chú:

1. Quách Tấn – Nước non Bình Định, NXB Thanh Niên in lần 2, TP.HCM – 1999, Tr. 344-345.

2. Những gia phả xưa của dòng họ có thể được anh Trần Văn Nghị ở quận Phú Nhuận (TP. Hồ Chí Minh), ông Trần Ba ở Đà Lạt và Trần Nguyên Hoàng ở Đà Lạt lưu giữ. (Lược trích bài TRẦN QUANG DIỆU của TS. Vũ Minh Giang, in trong TRÊN ĐẤT NGHĨA BÌNH tập I, Sở Văn hóa – Thông tin Nghĩa Bình xuất bản, Quy Nhơn – 1988, từ tr. 194 đến tr. 199)

Read Full Post »


Quách Tấn

 

 

Hàn Mặc Tử rất chú trọng về âm nhạc và màu sắc. Đó chính vì tâm hồn Tử có nhiều trạng thái cá biệt, nhiều khi rất bí ẩn u huyền; để diễn tả, phải dùng màu sắc, hình ảnh và âm nhạc–nhất là âm nhạc, vì chỉ có âm nhạc mới diễn tả nổi những cái sâu xa, thầm kín, những cái tế nhị, u ẩn của một tâm hồn.

Nhiều khi Tử phải bỏ nghĩa thông thường của chữ, bỏ cả văn phạm của câu, để cho thanh âm tiết tấu phù hợp với những biến chuyển, những rung động, những xao xuyến của tâm hồn–một tâm hồn mênh mông và đối với chúng ta có phần xa lạ–mà văn tự chính xác nhiều khi không diễn tả được thấu đáo, không diễn đạt đúng ý muốn của người thơ. Cho nên xem thơ Hàn Mặc Tử, nhiều khi không nên chấp ở chữ mà hại lời, không nên chấp ở lời mà hại ý. Và muốn nhận thức tình ý trong thơ được đầy đủ, thì phải thưởng thức nhạc thơ trước nhất, vì trong thơ Tử, nhạc đi trước mà ý theo sau, và có khi ý không ở trong lời mà ở trong nhạc.

Trong tâm hồn Tử, không có những bức thành kiên cố ngăn cách tôn giáo của mình và tôn giáo của người, nhất là đối với Phật giáo. Vì không có những bức thành kiên cố ngăn cách giữa tôn giáo mình và tôn giáo người, nên Tử đã đi tìm nguồn cảm hứng trong Đạo Bồ Đề. Và mặc dù tự xưng mình là “Thi sĩ của đạo quân Thánh Giá”, Tử vẫn không ngần ngại đem những từ ngữ, những hình ảnh của Phật giáo và dùng trong văn thơ mình, dùng cả vào trong những bài có tinh thần Thiên Chúa giáo nhiều nhất. Như bài Thánh Nữ Đồng Trinh là một.

Bài này Là những lời Tử dâng lên Đức Maria để ca ngợi “ơn phước cả”, mà Thánh Nữ đã ban cho Tử trong “cơn lâm lụy”. Trong bài có những chữ “Từ Bi”, “ba ngàn thế giới”, là chữ của nhà Phật, dùng một cách sướng khoái:

Lạy Bà là Đấng tinh truyền thánh vẹn

Giàu nhân đức, giầu muôn hộc từ bi

Tôi ưa nhìn Bắc đẩu rạng bình minh

Chiếu cùng hết khắp ba ngàn thế giới

 

Hai chữ “Từ bi”, còn thấy dùng trong nhiều bài khác:

Thơ tôi thường huyền diệu

Mọc lên đạo từ bi

(Cao Hứng)

Trời từ bi cảm động ứa sương mờ

Sai gió lại lay hồn trong kẽ lá

(Hãy Nhập Hồn Em)

Nhiều từ ngữ khác của Phật giáo, như “hằng hà sa số” “mười phương” cũng thường gặp trong thơ Tử:

Mây vẽ hằng hà sa số lệ

Là nguồn ly biệt giữa cô đơn

(Cuối Thu)

Đóng cửa mười phương lại

Dồn ánh sáng vào đây

(Điềm lạ)

Trời như hớp phải hơi men ngan ngát

Đắm muôn nghìn tinh lạc xuống mười phương

(Nguồn thơm)

Nhưng đó chỉ là những dấu tích bên ngoài. Trong thơ Hàn Mặc Tử có nhiều bài chịu ảnh hưởng cả hình thức lẫn tinh thần Phật giáo:

Bay từ Đao Lỵ đến trời Đâu Suất,

Và lùa theo không biết mấy là hương.

(Phan Thiết)

Trở lại trời tu luyện với muôn đêm,

Hớp tinh khí lâu năm thành chánh quả.

(Phan Thiết)

Ngoài những ngôn ngữ phổ thông của nhà Phật, như “thành chánh quả”, “sông Hằng”, Tử vãi tung thơ lên tận sông Hằng (Phan Thiết). Ngoài những hình ảnh đẹp đẽ của trời “Đao Lỵ”, trời “Đâu Suất” – những cõi Phật xa xăm, đầy nhạc, đầy hương, đầy ánh trăng–chúng ta nhận thấy trong bài Phan Thiết, thuyết nghiệp báo và thuyết luân hồi được thi vị hóa một cách tài tình: con chim Phụng Hoàng vì Sân Si mà phải đoạn, và khi trở lại trời tu luyện thành chánh quả rồi, mà vì tập khí chưa tiêu trừ trọn vẹn, nên phải trở xuống trần gian, “nơi đã khóc đã yêu đương da diết” để mà “chôn hận nghìn thu” và “sầu muộn ngất ngư”.

Trong bài Phan Thiết, chúng ta còn nhận thấy rằng Hàn Mặc Tử đã nhìn đời bằng con mắt giác ngộ: những hiện tượng trong cõi đời này đều là những tuồng ảo hóa:

Sao tan tành rơi xuống vũng chiêm bao,

Trăng tan tành rơi xuống một cù lao

Hoá đại điện đã rất nên tráng lệ

(Phan Thiết)

Và cõi đời này–mà Phan Thiết là tượng trưng–là nơi đau khổ, là nơi “chôn hận nghìn thu”, là nơi “sầu muộn ngất ngư”. Vì nhận biết cõi đời là giả tạo, là nơi khổ lụy, Tử đi tìm nơi giải thoát và đã tìm thấy Cực Lạc Quốc Độ của Phật A Di Đà.

Sáng vô cùng, sáng láng cả mọi miền

(Ngoài vũ trụ)

Cả trời bỗng nổi lên muôn điệu nhạc

Rất trọng vọng, rất thơm tho, man mác

Rất phương phi trên hết cả anh hoa

(Ra đời)

Vì muôn kinh dồn dập cõi thơm tho,

Thêm nghĩa lý sáng trưng như thất bảo

(Đêm xuân cầu nguyện)

Những “ánh sáng vô cùng” “sáng láng cả mọi miền”, những tiếng “nhạc thiêng liêng dồn trỗi khắp hư linh”, những điệu nhạc “rất trọng vọng, rất thơm tho, man mác” những “cây bằng gấm và lòng sông bằng ngọc”, ở trong Tử là vang bóng của “vô lượng quang” của “thiên nhạc”, của “hoa sen đủ màu sắc và đủ hào quang mọc trong ao Thất bảo” trên thế giới Cực Lạc mà Tử đã nhìn qua kinh A Di Đà.

Tinh thần Phật giáo còn ảnh hưởng trong nhiều văn thơ của Tử, nhưng nhiều khi hoặc quá tiềm tàng, hoặc bị hình ảnh thơ lấn đi, nên chúng ta không thấy nếu chúng ta không chú ý, không lưu tâm. “Ôi trời hạo nhiên đây không phải là công trình châu báu của Người sao? Lòng vô lượng đây không phải do phép màu nhiệm của Đấng Vô Thỉ Vô Chung?” (bài tựa Xuân Như Ý). Đó chẳng phải là chữ Tâm được thi vị hóa bằng những hình ảnh tượng trưng? Hàn Mặc Tử đã xác nhận tính chất vô thỉ vô chung của Tâm (lòng vô lượng), mà biểu hiện mầu nhiệm là Mùa xuân thơm tho, trong đẹp, tràn lan khắp không gian (trời muôn trời) chen lấn vô tận hồn tạo vật, và tồn tại cùng thời gian (năm muôn năm). Nhưng vì là một tín đồ Thiên Chúa Giáo, Tử đã quan niệm cái Tâm bất sanh bất diệt là Đấng Vô Thỉ Vô chung, và coi những hiện tượng do “lòng vô lượng” đã “đưa ra” kia là “công trình châu báu” của Đức Chúa Trời, nên Tử “cao rao danh Cha cả sáng”. Như thế Hàn Mặc Tử có phải là một nhà thơ của đạo Thiên Chúa? Nghĩa là Tử phải có một tín đồ dùng thơ để phụng sự tôn giáo mình? Thưa không phải. Tử tìm vào Đạo – Đạo Thiên Chúa cũng như Đạo Phật chỉ để tìm nguồn cảm hứng, để tìm nguồn an ủi khi bị tình đời phụ rẫy hoặc thể xác dày vò. Lý tưởng chính của Tử là Thơ. Tôn giáo chỉ là những yếu tố phụ vào để làm cho thơ thêm giầu sang và trọng vọng. Do đó nhiều khi bị hứng thơ lôi cuốn, Tử đã thốt ra những lời có thể gọi là “phạm thượng” đối với những Đấng Thiêng Liêng mà Tử phụng thờ. Ví dụ đương quỳ trước Thánh Nữ Maria để ca ngợi ơn cứu nạn, mà Tử dám nói:

Tôi cảm động rưng rưng hai hàng lệ;

Dòng thao thao bất tuyệt của nguồn thơ

Bút tôi reo như châu ngọc đền vua

Thật chẳng khác nào đứng nói cùng một người ngang hàng ngang lứa hoặc Nàng Thơ! Thậm chí trong khi cầu nguyện lúc đêm xuân, mà chàng vẫn để tứ thơ ngang tàng theo hứng:

Ta chắp tay lạy quỳ hoan hảo,

Ngửa trông cao cầu nguyện trắng không gian,

Để vừa dâng vừa hiệp bốn mùa xuân

Nở một lượt giàu sang hơn Thượng Đế

(Đêm xuân cầu nguyện).

Nghĩ đến những gì “giàu sang hơn Thượng Đế”, Tử biết là một tội lỗi lớn, nên tiếp đó chàng van lơn thầm nguyện:

Tôi van lơn, thánh nguyện Chúa Giêsu

Ban ơn xuống cho mùa xuân hôn phối

Xin tha thứ những câu thơ tội lỗi

Lời xưng tội vẫn không thật nghiêm trang thành kính! Trong khi viết những lời tạ tội, Tử đã nghĩ đến thơ nhiều hơn nghĩ đến Chúa, mặc dù Tử luôn luôn thờ Chúa trên thơ.

Còn đối với Đạo Phật? Hàn Mặc Tử đi vào Đạo Từ Bi không phải để tu, mà cũng không phải để tìm hiểu những gì cao siêu huyền diệu. Tử vào Đạo Từ Bi cũng như một lãng nhân vào vườn hoa nghìn hương muôn sắc. Vào không phải với mục đích của nhà vạn vật học hay nhà làm vườn, mà vào với tấm lòng con nhà nghệ sĩ khoáng đạt phong lưu. Vào để thưởng thức những cái Đẹp khác thường vừa giàu sang vừa thanh thoát. Hoa có bao nhiêu hương giống, cũng không cần biết. Vườn hoa có tự bao giờ và rộng đến đâu, cũng không cần biết nốt. Mà chỉ biết rằng có nhiều hương lạ, nhiều sắc lạ, và chỉ biết trải lòng mênh mông. Rồi những gì đã thấm vào tâm khảm thỉnh thoảng trào ra ngọn bút những lúc Thơ về, khi thì đượm đà, khi thì phảng phất, khi thì hiển hiện, khi thì ẩn tàng và tràn ra một cách tự nhiên, khiến lắm lúc nhà thơ rưởng rằng đó là do mình sáng tạo ra chớ không ngờ rằng mình đã chịu ảnh hưởng,

Và tất cả những gì đã thâu nhập được trong tôn giáo, trong Phật giáo, cũng như trong Thiên Chúa Giáo – một khi đã vào thơ Tử thì không còn giữ nguyên chất, vì đã bị tâm hồn Tử biến thể, pha trộn theo quan niệm và sở thích của mình. Tử thường nói cùng bạn rằng: “Tôi lợi dụng văn chương và triết lý nhà Phật để làm thơ mà thôi. Tôi dung hòa cả hai thể văn và tôn giáo: Thiên Chúa và nhà Phật. Đó chính là muốn làm giầu cho nền văn chương chung.”

Bởi vậy, khi đọc Hàn Mặc Tử, chúng ta nên mở tấm lòng cho rộng rãi, đừng chấp về mặt tư tưởng cũng như về mặt ngôn từ, thì mới dễ cảm động cùng con người thơ phức tạp, mới tận hưởng được tất cả những gì sâu kín ẩn khuất dưới những hàng mây ráng lung linh.

(Nha Trang, mùa xuân Tân Sửu, 1961)

Read Full Post »

Bình Định bấy giờ chỉ có một nhóm người mà các bạn yêu thơ do Trần Thống ở Kiên Mỹ đại diện, đặt tên là “Bàn Thành tứ hữu”. Nhóm thơ gồm có: Hàn – Chế – Yến – Quách. Bốn người này mang tên một con vật trong bộ Tứ linh. Hàn Mặc Tử là Rồng, Chế Lan Viên là Phượng, Yến Lan là Lân, Quách Tấn là Rùa.

Cửa Đông-thành Bình Định,

Bấy lâu nay, giới văn học thường nhắc đến nhóm thơ tiền chiến của Thành Đồ Bàn (tức Bình Định xưa). Vì biết tôi là con gái của “con Lân” trong nhóm “Tứ linh”, Có người hỏi: “Thế nào là Trường thơ Bình Định? Vì sao gọi các cụ ấy là Tứ linh?…”.

Theo sự hiểu biết hạn hẹp, qua những bức thư của bác Quách Tấn gửi cho ba tôi – nhà thơ Yến Lan – tôi xin phép thông tin lại để các bạn yêu thơ hiểu thêm về cái nôi thơ mà người đời thường tâm đắc “Bình Định là đất võ mà ẩn chứa trong mình những bí ẩn về văn chương”.

Trong bức thư đề  “Nha Trang lập xuân 88”, bác Quách bức xúc viết: “Rất tiếc là không có người có đủ tài, học, tâm, chí để cùng nhau khai thác kho tàng Văn hóa của Bình Định. Tôi nhận thấy phần đông anh em làm văn nghệ vì danh, vì lợi hơn là vì bổn phận thiêng liêng. An Nhơn có nhiều nhân vật văn học và lịch sử lắm, chú và anh em văn sĩ đừng phụ cổ nhân…”.

Theo bác Quách: “Không có Trường thơ Bình Định, chỉ có Trường thơ loạn gồm: Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Yến Lan. Trường thơ này không thể trở thành Trường thơ Bình Định được”.

Bình Định bấy giờ chỉ có một nhóm người mà các bạn yêu thơ do Trần Thống ở Kiên Mỹ đại diện, đặt tên là “Bàn Thành tứ hữu”. Nhóm thơ gồm có: Hàn – Chế – Yến – Quách. Bốn người này mang tên một con vật trong bộ Tứ linh. Hàn Mặc Tử là Rồng, Chế Lan Viên là Phượng, Yến Lan là Lân, Quách Tấn là Rùa.

Có câu thơ bằng tiếng Hán của Nguyễn Đức Sung:

Tấn bộ bồng lai lạc cảnh khoan
Hoan tình hội họp tứ thi lang
Trí hân khôi thỏa tâm hoài vọng
Lang phóng hương nồng nhập tiểu bang

Tạm dịch:

Tấn tới bồng lai vui cảnh tiên
Hoan tình họp mặt bốn hữu thi
Trí sáng đẹp lòng bao mong nhớ
Lan tỏa hương nồng nhập xứ men

(Ghi chú: Bốn chữ đầu của từng câu là tên của bốn nhà thơ nhắc tới trên. Hoan (Phan Ngọc Hoan) là tên thật của Chế Lan Viên, Trí (Nguyễn Trọng Trí) là tên thật của Hàn Mặc Tử).

Và người đầu tiên đưa tên của nhóm Tứ linh vào thi đàn thời bấy giờ là nhà phê bình văn học Hoài Thanh.

Còn tại sao ông Trí lấy bút danh Hàn Mặc Tử: Bút danh đầu tiên và cũng khá nổi tiếng của ông là Phong Trần. Nhưng nhiều người thấy dáng dấp thư sinh của ông nên trêu “người mảnh mai như cậu làm sao chịu đựng được phong trần, nó lại không hợp với vóc dáng của cậu”. Sau đó ông lại đổi là Hàn Mạc Tử (tức rèm lạnh).

Nhưng bác Tấn vẫn chưa chịu: “Đã có rèm thêm bóng trăng vào, hỏi còn cảnh nào nên thơ bằng”. Ông Trí ngẫm nghĩ rồi lấy bút ra vạch thêm vành trăng non vào đầu chữ A. Chỉ thêm một cái dấu mà nghĩa khác hẳn: Hàn Mạc Tử = Rèm Lạnh giờ thành Hàn Mặc Tử tức Bút Mực

Bút danh của chú Hoan ban đầu là Chế Bồng Hoan. Một hôm biết ba tôi sắp đi xuống Qui Nhơn để học, chú đến chùa Ông thăm, thấy trời tối mà ông nội tôi vẫn thắp đèn tưới cây, và ba tôi ngâm nga:

Rồi đây mỗi ngả một thân đơn
Con ngọn đèn xanh, cha mảnh vườn
Đêm lụi, đèn tàn ai gạt bấc
Vườn lan ai ấy tưới thay con.

Nghe xong chú Hoan cảm động quá nói: “Mình muốn làm một cái gì đó để kỷ niệm câu thơ của cậu”. Nghĩ một lát chú Hoan reo to: “À mình sẽ đổi bút danh thành Chế Lan Viên”. Ba tôi cũng thấy đó là ý hay nên đồng ý ngay. Và thế là từ đó trên thi đàn Việt Nam xuất hiện bút danh mới: Chế Lan Viên.

Về bút danh của ba tôi thì nhiều người biết rồi. Lúc đầu ông dùng bút danh có khi là Xuân Khai, có khi Thọ Lâm. Còn Yến Lan là tên ghép của hai giai nhân. Trong lớp ông dạy có hai cô gái trông khá xinh, chơi thân nhau, một tên là Yến, một là Lan. Họ thường thì thầm: “Tao, mày chơi thân với nhau như vầy sau này chỉ lấy một chồng”. Ba tôi nghe được thấy câu chuyện của hai người hay hay nên quyết định đổi bút danh Xuân Khai thành Yến Lan. 

Tuy xuất thân và trưởng thành từ Gò Bồi – Bình Định, nhưng nhà thơ Xuân Diệu ban đầu không nhập vào nhóm này. Bác Tấn nói vui: “Xuân Diệu đấm Hàn, thoi Yến, đá Quách, từ biệt quê hương để ra Hà Nội bắt tay với Huy Cận lập thành nhóm Huy – Xuân”.

Tại Thu Xà – Quảng Ngãi, nhà thơ Bích Khê lẻ loi, cô quạnh đành lui vào Bình Định cùng bốn chàng thi sĩ nọ lập thành nhóm Ngũ hành. Nhóm Ngũ hành tuy mới thành lập nhưng họ rất tâm đầu ý hợp. Chỉ có bác Tấn ở Nha Trang nhưng họ vẫn thường xuyên vào, ra để thăm nhau.

Ông cụ tôi tâm sự: “Bình Định là nơi phối hợp để thành quả trứng còn Nha Trang là lò ấp trứng. Tôi và các bạn đã gửi lại Nha Trang một thời tâm đắc và tuổi trẻ đam mê, làm sao quên được những ngày tháng cùng nhau học hỏi, vui chơi, nghiên cứu thơ đường, học chữ Hán”.

Một thời gian ngắn, Hàn Mặc Tử bị trọng bệnh rồi mất, ông hưởng dương 28 tuổi. Chẳng bao lâu sau Bích Khê lâm bệnh nặng (lao). Cả nhóm bàn đưa Bích Khê vào Nha Trang tìm cách nuôi nhau. Họ góp tiền thuê một nhà ở phường Củi cho Bích Khê ở.

Vì lòng tốt của bạn, được một thời gian Bích Khê lại lặng lẽ bỏ ra đi. Nhà thơ Nguyễn Đình đã tìm lại được Bích Khê. Sau khi bàn bạc kỹ, nhóm quyết định đưa ông ra Huế chữa trị và an dưỡng. Về kinh tế, tùy theo hoàn cảnh từng người mà góp tiền nuôi Bích Khê.

Chú Chế Lan Viên phải nuôi cha mẹ góp 10 đồng, bác Quách 20 đồng, chú Nguyễn Đình 20 đồng, vì không vướng bận gì nên ba tôi góp 30 đồng. Như vậy mỗi tháng nhà thơ Bích Khê nhận được 80 đồng, theo tôi biết đó là số tiền rất lớn, cơm tháng hồi đó chỉ có 4 đồng. Tất cả việc thu và gửi tiền ra Bệnh viện Paskiê cho chú Bích Khê đều do vợ bác Tấn đảm nhận.

Một thời gian sau ba tôi nhận được một lá thư viết bằng bút chì:

“Yến Lan

Mình rất cảm ơn cậu và các bạn đã chăm lo cho mình. Bây giờ mình không thể chịu đựng được nữa, mình đành vĩnh biệt cuộc sống, vĩnh biệt bạn bè”.

Thời gian sau, không biết năm nào nhà thơ Xuân Diệu trở về Bình Định, nhập vào nhóm Ngũ hành để thành nhóm Lục căn (Nhãn – Nhỉ – Tỷ – Thiệt – Thân – ý). Tôi không biết ai mang bí danh của những bộ phận này vì tên nhóm ít ai nhắc đến .

Trong nhóm này chú Xuân Diệu là khôn ngoan nhất, bác Quách Tấn thường trêu: “Thằng Diệu nó chẳng cho ai xem thứ gì khi chưa in thành chữ trên báo bao giờ”. Nhưng điều này bác lại cho là đúng và đó là kinh nghiệm quý báu trong sáng tác, vì thời gian sau này bác bị người khác đứng tên trong nhiều bài viết của mình!

Lâm Bích Thuỷ

Read Full Post »

Quách Tấn yêu quê hương Bình Định sâu nặng. Trong “Nước non Bình Định” của mình, ông dành hẳn một chương nói về “tánh tình” người Bình Định. Theo ông, người Bình Định phần đông tính tình chất phác, đôn hậu, chuộng khí tiết, trọng nhân nghĩa.

(more…)

Read Full Post »