Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘Quế Sơn’

DỊCH cũng là một nghệ thuật, và người dịch không chỉ làm công việc chuyển ngữ, mà còn phải am tường văn hóa, để hành trình dịch thuật không chỉ là thao tác kỹ thuật, mà còn là sáng tạo và thăng hoa cảm xúc, là một cuộc đối thoại tự thân.

YUME xin hân hạnh giới thiệu khóa học đầu tiên của năm 2019 về nghệ thuật dịch mang tên: “Dịch văn học – đối thoại xuyên văn hóa” với giảng viên là dịch giả Quế Sơn.

Khoá học không chỉ giúp các bạn có kỹ năng dịch văn bản mà còn giúp các bạn hiểu đúng, hiểu sâu hơn các tác phẩm văn chương thông qua bối cảnh văn hoá.

Mỗi buổi học với dịch giả Quế Sơn sẽ kéo dài 2 tiếng, từ 9h-11h trưa chủ nhật hàng tuần, bắt đầu từ ngày 17.3 đến 7.4.2019 .

 

Advertisements

Read Full Post »

-Lê Hoài Lương  –  Quế Sơn –  Hà Tùng Sơn   Thế Ngọc

A-TÁC PHẨM VÀ DƯ LUẬN

Bên sông vọng một tiếng đàn

(Đọc tập thơ “Dạo đàn bên sông” của Văn Công Mỹ, NXB Trẻ 2012) (more…)

Read Full Post »

Thơ gửi người bạn cũ

Quế Sơn
Em có về nghe lại tiếng sông đêm
Chảy qua thời thanh niên nhiều khốn khổ
Tình ta sống chưa một lần thấy đủ
Khi bèo mây theo nước lũ trôi xa.
.
Dẫu ngày kia em có trở lại nhà
Dưới mái hiên xưa nấp mưa chiều bay vội
Anh vẫn thấy mắt em nhìn chợt tối
Đã biết buồn cho những lỡ làng xưa.
.
Dẫu mười năm em bỏ xa phố chợ quê mùa
Hoa cỏ xác xơ cũng muốn làm mặt lạ
Nhưng tình anh vẫn nắng về trên bóng lá
Cứ chập chờn lay động nỗi đau riêng.
.
Em có về nghe lại tiếng sông đêm
Có chút hương tươi nụ hôn vội vàng thời tuổi trẻ
Chút tin yêu hồng hào quả tim chưa tàn phế
Chút nhẫn tâm người ra đi không ngoảnh mặt bao giờ.
.
Anh chẳng thể nói gì ngoài những chuyện bâng quơ
Dẫu bây giờ em đã là góa phụ
Dẫu muộn màng anh vẫn tin lòng em chưa cũ
Khi bên sông anh nghe được tiếng gió thổi sang mùa.
.
Em cứ về nhìn lại bến bờ xưa
Dù để biết một lần tình ta chưa tắt hẳn
Biết lòng anh đã nguôi ngoai thù hận
Và hồn anh còn chảy mãi tiếng sông đêm…
.
Quế Sơn.

Read Full Post »

Chiều trên cảng Copenhagen

Quế Sơn

Quán chiều bồng khói thuốc lá

Ngập ngụa men bia Tuborg

Chim hải âu vờn quanh cột khói đen

Còi tàu từng hồi về đâu giục giã.

.

Chiều trôi bến cảng dâng đầy nước

Người ngồi quán lạ mặt héo hon.

.

Bao năm rồi tôi chưa về Nha Trang

Nỗi ngậm ngùi nào trên đầu lưỡi vẫn chưa tan.

XXX

Tháng mười về mang theo những hẹn hò muộn màng và chụp giựt

Mặt biển và da trời xám ngắt như thây ma

Thành phố thu mình chờ cơn bão rớt

Em co ro xe đạp và chiếc áo len đỏ

Gió ngược chiều mang về anh đôi ba giọt mồ hôi hồng hào hạnh phúc.

.

Anh muốn nắm tay tình bạn tình yêu

Trong quán nhạc rộn ràng bên bếp lửa lặng lẽ

Những sáng trời mù những đêm trăng tỏ

Trong vườn cây buổi trưa trên hè phố buổi chiều

Điều giản dị tột cùng sao lòng ta mãi xốn xang!

.

Như sợi nắng mai mỏng manh cựa mình trên cánh lá

Như khói lam chiều bị nghẹn bóng hoàng hôn

Có nỗi sợ hãi nào cứ lẫn khuất sau câu cười tiếng nói

Như thể có một ngày máu chạy lạc đàng tim.

XXX

Khăn tay nhàu nát trong tay lạnh

Giọt nước nào âm thầm rơi trên ly bia.

.

Em còn đứng trên đồi nhìn máu chảy

Loang những màu trăng thuở xuân thì ?

.

Chiều chưa nghiêng mà tôi đã say mèm

Còn ai đâu nói chuyện hoài cố nhân!

XXX

Bao năm rồi tôi chưa về Copenhagen

Tiếng còi tàu chiều nao lại rúc dậy trong hồn.

Read Full Post »

Tác giả : Christine KERDELLANT và Éric MEYER

Người dịch : Quế Sơn (dịch theo nguyên tác tiếng Pháp “La porte dérobée”, ấn bản năm 2007)

Nhà xuất bản TRẺ, 12/2011, 468 trang.

(Sự trích đoạn để đưa lên mạng “Xứ nẫu” đã được NXB Trẻ cho phép.)

 

 

 

Bìa sách

Bọn tin tặc đang phát tán một loại virus gây bệnh cho tất cả các máy tính kết nối vào mạng internet trên toàn cầu.Virus này sản sinh trong ổ cứng một backdoor – cửa mật, giúp chúng kiểm soát và khống chế từ xa tất cả các máy tính nối mạng. Các nhà máy hạt nhân, ngân hàng, hãng hàng không, công ty dược phẩm, hệ thống cung cấp nước sạch…, toàn bộ các trung tâm đầu não của thế giới phương Tây đều nằm trong tầm ngắm của bọn chúng. Bọn khủng bố có thể tùy thích đánh bom các công xưởng, đầu độc người dân, chiếm đoạt tài sản cá nhân cũng như sản xuất dược phẩm giả hiệu. Nỗi kinh hoàng lớn của thế kỷ XXI – cuộc mưu hại về điện tử đang lan rộng lan nhanh trên toàn thế giới…

Chỉ có một người có thể biết cách đóng lại cái backdoor mà đích thân ông đã dự kiến trong các phần mềm được sáng tạo theo yêu cầu của CIA: đó là Dan Barrett, người sáng lập Controlware, một doanh nhân Mỹ lừng lẫy nhất hành tinh. Nhưng Barett đã chết trong cuộc mưu sát do bọn khủng bố gây ra.

Emma Sharnnon, người tình cũ của Dan, với sự trợ giúp của một chuyện gia tin học và một nhà văn am hiểu về lịch sử nước Pháp, đã lao vào cuộc tìm kiếm phương thuốc giải độc, tức chiếc chìa khóa tin học duy nhất có thể giúp thế giới thoát khỏi hiểm họa này. Nhưng chiếc chìa khóa ấy hiện cất giữ ở đâu? Trong mê cung đường hầm của lâu đài Versailles tráng lệ ở nước Pháp? Hay trong công thức toán học kỳ bí chứng minh sự hiện hữu của thượng đế?

Làm sao ngăn chặn kè thù ảo giấu mặt đằng sau Cửa mật? Mời các bạn cùng khám phá.

(trang bìa 4)

—————————————————

Trích đoạn 1 ( thuộc chương 2)

 

…Vì biển sáng nay thấy lặng và sáng như một cái hồ trên núi. Gió khá nóng hôm qua đã ngừng thổi trong đêm. Vài vết màu xanh nhạt xuất hiện trên mặt nước khiến ta đoán là có những dãi cát trắng rộng lớn ngoài xa. Nước chỉ cần trong thêm chút nữa thì từ sân hiên người ta hẳn là thấy ra những con cá hồng quẫy vây hay tắm nắng dưới những tia mặt trời đầu tiên.

Nhưng chẳng ai sẽ nhìn chúng cả. Ở cuối bến nổi bằng gỗ tếch chìa thẳng ra trên mặt nước, những cái bàn nằm chỗ tốt nhất bị mấy đám đàn bà chiếm cứ, họ còn kéo thêm ghế vào ngồi cho đông. Trời nóng nhưng không chị nào mặc áo đầm mỏng. Phần lớn các chị mặc đồ veste bộ với quần dài thuần màu đen hay có sọc nhỏ, vải prince-de galles[1], hay áo may bó sát người, nói chung quá nóng vào mùa này. Những chị thoải mái nhất thì mặc quần jean và áo sơ-mi không ống tay để lộ những đôi vai rám nắng. Pierre có cảm tưởng mấy chị này quan sát lẫn nhau như những con thú cùng giống, hất hàm hay vẫy tay chào nhau để tránh đến gần nhau. Phần lớn họ có vẻ lo ngại, các xắc tay bóng nhoáng màu đen hay sáng rực, đặt dưới đất kẹp giữa hai chân. Một phản xạ của mấy chị thị dân ngay ngáy lo mất trộm. Pierre nhận ra, từ xa, phong thái  “ nữ doanh nhân đi nghỉ mát về ” còn bị stress ngay cả trước khi bắt đầu làm việc lại. Loại đàn bà làm anh khó chịu.

Vài chị đứng đây, đứng đó, tay cầm tờ báo, nhíu mày. Các chị khác thì gõ lên sổ nhật ký điện tử của mình. Đối diện với bầy business women[2] này, trong đó có thêm, theo anh thấy, vài nữ diễn viên và ngôi sao truyền hình, Pierre cảm thấy nhỏ nhoi, tầm thường, lạc điệu. Đồ tỉnh lẻ, như dân Paris hay bĩu môi. Nhưng xét cho cùng, đó là cái phận quèn của anh mà : chỉ là một tên cung cấp trang thiết bị cho hội nghị, không hơn không kém, giữa những tên cung cấp khác…ngay cả khi có sự thông cảm lẫn nhau giữa anh và nhân vật thứ hai của Women’s Congress, người đàn bà Pháp độc nhất trong ban chấp hành hội, tên là Christelle Loric. Chính nhờ bà này “ đẩy ” mà từ ba năm nay anh nhận được thị trường béo bở này.

Pierre tìm cách nhận diện các khuôn mặt có tiếng giữa đám đàn bà. Anh đọc trên tờ Le Figaro do khách sạn đưa tận phòng là Hillary Clinton[3] sẽ đến dự. Có cả Ségolène Royal[4] nữa, cũng như vài tổng giám đốc lớn như Indra K. Nooyi, điều hành công ty Pepsi-Cola ở Ấn Độ. Đây là lần thứ ba anh phụ trách bộ phận hậu cần điện tử cho Đại hội, và anh nhanh chóng nhận ra rằng sự tập hợp này, mà thoạt đầu anh thấy nó như một cuộc trình diễn cho vui của đám đàn bà đang cần sự chú ý của giới truyền thông, là một định chế. Điểm hẹn không thể không đến của những người phát ngôn cho sự nghiệp phụ nữ trên thế giới. Một loại gặp gỡ thượng đỉnh toàn cầu của Nữ giới, với chữ N lớn. Những bài diễn văn lịch sử đã được đọc lên ở đây, nói về thân phận đàn bà ở các nước Hồi giáo, cuộc đấu tranh cho bình đẳng lương bổng hay là những hậu quả của một chiến thắng phụ nữ trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ. Pierre nhớ lại hình ảnh của Benazir Bhutto[5] hay Ingrid Betancourt[6] chụp trước viện bảo tàng Cuộc Đổ Bộ. Vài người đàn ông được WAC mời đến nghe diễn từ hay làm diễn giả nhưng ta thấy họ chỉ xuất hiện lúc gần cuối đại hội. Thậm chí những nhà báo nữ cũng mặc váy lót – hay nói cho đúng hơn, theo như anh thấy trước mắt, đồ veste bộ với quần dài theo thông lệ.

Tổ chức WAC là thị trường bự nhất, bỏ xa các thị trường khác, mà công ty S3E, mới có bảy năm hiện hữu, đã giành được. Nhưng nhờ có cái tiếng làm cho WAC này mà S3E ngày càng nhận thêm hợp đồng ở Paris đến mức Pierre đã nghĩ đến chuyện rời bỏ Marseille. Clara đã la làng khi nghe đến chuyện “ lên lại ” Paris, quên mất là mình đã bị trầm cảm khi phải “ xuống ” Marseille vài năm trước đó. Nhưng Clara thì lúc nào cũng đồng bóng như vậy mà !

Một tên bồi mặt không cạo râu, cuối cùng cũng đến gần anh.

— Cà phê, thưa ông ? Hay ông muốn dùng thứ khác ?

Giọng khô khốc.

— Không, tôi đã bị trễ…tôi đang vội.

— Ông không phải duy nhất mà.

Tên bồi bàn đưa tay lấy tách của Pierre, rót cà phê vào, đặt lên bàn nhưng quên để lại trên dĩa lót. Nước cà phê tràn ra ngoài tách làm bẩn khăn trải bàn. “ Một tên làm phụ thêm đến từ Paris ”, Pierre nghĩ thầm, tin rằng những bồi bếp ở tỉnh thì bao giờ cũng dễ thương hơn những đồng nghiệp Paris của họ. Nhưng xem nào, hình như hắn đang xin lỗi.

— Cám ơn, anh ân cần lắm, Pierre nói khi bỏ một cục đường vào tách.

Nhưng nói tôi nghe chuyện gì xảy ra ở khách sạn hôm nay vậy ? Hồi nãy, tôi thấy người ta khiêng một người bị thương trên cáng…

Tên bồi đang bỏ đi liền quay gót trở lại.

— Ông không biết à ? Phòng 112. Một cô người Thụy Điển bị khó ở chiều hôm qua. Bác sĩ đã đến khẩn cấp tối qua. Ông ta cho là dị ứng nên không đưa vào bệnh viện. Chẩn bệnh sai mà, theo ý tôi. Đúng hơn, tôi muốn nói là…

— Rồi sao nữa ?

— Sáng nay người ta thấy cô đã hôn mê sâu, đang ở trong tình trạng nguy kịch, có vẻ thế. Đó là một quản đốc viện bảo tàng. Một cô nàng trẻ đẹp, tôi bảo đảm với ông đó ! Nhưng mà hơi kỳ quặc: trưa hôm qua cô ta hỏi tôi trà Darjeeling…rồi khi tôi mang trà đến, cô ta lại bảo rằng cô đã gọi một double- crème[7] mà ! Đâu thua bà chằng ! Thế mà tôi cứ tưởng năm nay dễ chịu lắm. Họ đến ít đông hơn thường lệ, mấy bà superwomen[8] này.

Pierre không nhìn tên bồi rời đi. Anh đã cầm lấy cái điện thoại di động để đọc tin nhắn đến hồi nãy, khi anh ra khỏi phòng. Do Franck gửi đến, Franck là một đồng nghiệp cũ, được đào tạo bài bản ngành tin học như anh, đang làm cho một PME[9] ở Aix-en-Provence, và ngày thứ bảy thường chơi bóng rugby với anh.

MUỐN GỬI FAX CHO MÀY. SỐ FAX ?

Hắn hẳn là muốn điện thoại cho mình mà không được đây. Khi các hệ thống phủ sóng bị giới hạn thì đôi khi các tin nhắn SMS vẫn đến được mà. Pierre ấn phím “ gọi lại ”, đề phòng trường hợp hệ thống hoạt động lại, để thử liên lạc thẳng với Franck. Tiếng bip-bip đứt quãng, đường dây bị bận. Anh để cái di động trên khăn bàn trắng và thấy thông báo của hãng điện thoại hiện trên màn hình :

Hệ thống bị  tắc nghẽn.

Anh thử gửi tin nhắn, may quá, nó chạy lần này. Franck sẽ có câu trả lời của anh, càng tốt chứ sao. Số fax của khách sạn được in ở cuối trang thực đơn  nằm chình ình trên bàn.

Pierre chen lách một cách khó khăn ra khỏi đám người tụ tập như cơn lốc xoáy trước phòng lễ tân Overlord và tiến về hội trường mang tên Eisenhower[10] nằm ở khu nhà sau. Anh rảo bước nhanh hơn. Các nhân viên kỹ thuật chắc sốt ruột vì sự vắng mặt của anh. Nhưng họ chắc cũng mang cùng nỗi lo âu như anh. Internet bị tê liệt. Sự tê liệt này lạ lùng quá. Lại khác dạng thông thường nữa. Nó gây cho anh những mối bận tâm kỹ thuật, nhất là sự can thiệp vào hệ số song công[11]. Anh đã làm việc với Bernard tới hai giờ khuya để hoàn chỉnh các giải pháp. Khiến đầu anh ê ẩm. Nhưng Franck…liệu hắn có thể có cái gì khẩn cấp đến nỗi phải nói chuyện với anh ?

Bất ngờ một hình ảnh ngay lối vào hành lang dẫn đến hội trường làm anh đứng phắt lại. Trước mắt anh, những tấm ảnh của các đại biểu lần lượt xuất hiện trên một trong những màn hình được lắp đặt cho hội nghị. Toàn đàn bà không à, chắc chắn vậy rồi. Năm giây cho mỗi người. Chính anh là người đã điều chỉnh phần mềm mà. Nhưng anh đã không để mắt kiểm tra kỹ thuật toàn bộ hình ảnh. Thế rồi ngay đó, trên hàng chữ sáng, đỏ, Welcome to WAC[12], chung cho tất cả hình ảnh, vừa hiện ra khuôn mặt mà anh quen biết. Từ lâu lắm rồi. Trước khi tiểu sử của nàng được đăng trên các trang “ Tài chánh ” của tờ Wall Street Journal rất lâu. Tuy nhiên anh đã không thấy tên nàng trong tờ chương trình. Anh bước đến gần để đọc hàng chữ dưới bức ảnh.

 

Emma Shannon, khách mời danh dự

— Emma ! Thật không ngờ ! anh thầm thì, bất giác hé miệng mỉm cười.

Anh đã quen biết người đàn bà Mỹ này mười hai hay mười ba năm trước,  khi anh tìm được công việc đầu tiên ở hãng Supra Data, thời mà anh còn làm việc ở Paris. Rất lâu trước khi anh xuống La Canebière[13]. Đó là một người đàn bà tóc nâu, gầy và cao, mang dòng máu Pháp qua bà mẹ, và ông bố làm việc trong ngành ngoại giao Mỹ. Nàng xinh đẹp nhưng không đến nỗi làm người ta ngã ngửa, đúng hơn thuộc loại càng nhìn ta càng thấy đẹp ra. Chắc là nhờ mái tóc mềm, để dài ngang lưng. Răng nàng trắng và ngay hàng thẳng lối không chê được như người ta biết làm thế ở Hollywood, nhưng đủ nhọn, than ôi, để làm xước sàn gỗ. Emma Shannon đã lớn lên ở năm hay sáu nước khác nhau, học hành ở những trường trung học tốt nhất, rồi nàng tốt nghiệp đại học Harvard trước khi đến học tiếp ở Sciences-Po Paris[14], chắc là để ghi thêm một hàng độc đáo trên bản CV[15] của mình. Ở hãng Supra Data, nơi Emma trụ lại ba năm, nàng có tiếng là làm ăn hiệu quả trong công tác thương mại, nhưng ít mềm dẻo, không chịu được những cuộc họp bắt đầu trễ. Và nàng không ngớt than phiền về cung cách làm việc của người Pháp. Vả lại nàng đã quay ngay về sống ở Mỹ khi bắt được cơ hội đầu tiên. Vào thời kỳ nàng và Pierre cùng là đồng nghiệp, hai người đôi khi đi chung đến gặp khách hàng và ăn tối chung năm hay sáu lần, không hơn thế. Cái nhịp quan hệ bình thường của một tình bạn bề ngoài.

Nhưng cú siêu đẳng của Emma mà anh chỉ khám phá ra hai hay ba năm sau. Cô Shannon trở thành người tình của Dan Barett, người sáng lập ra hãng Controlware – một tay quyền lực nhất trên hành tinh tin học — ngay hồi đó rồi. Thực ra, chuyện tình của hai người đã bắt đầu ngay từ giảng đường đại học Harvard vào những năm cuối 1980 và gián đoạn khi Emma đi Pháp. Nhưng khi nàng trở về Mỹ, cuộc tình hồi sinh, mà lại ảo hơn là thực lần này. Ở trong hai thành phố cách nhau hàng ngàn cây số, hai người tình chọn đi xem cùng một phim cùng giờ giấc rồi điện thoại cho nhau sau đó để trao đổi cảm tưởng của mình. Mỗi người lắp đặt webcam trong căn hộ của mình để có thể đối diện nhau,  khi thì ăn sáng, khi thì đi tắm, bằng truyền hình trực tiếp. Thư điện tử, MMS[16], , tin nhắn SMS nối tiếp nhau ngày, đêm, khi trên giường, khi trên máy bay. Hơn nữa, trong cuốn tự truyện Những bộ nhớ của tôi (khả biến)[17], Barett gợi lại nhưng không nêu tên mối quan hệ của mình với Emma. Nhất là ông kể lại trong sách chuyện là tuy ở Boston nhưng lại kết bạn tình với người đàn bà ở San Francisco, ông đã áp dụng các hệ thống số để sống với nàng từ xa.

Cái dây rốn kỹ thuật này chắc là trở nên không đủ, bởi vì hai anh, chị tiên phong cho cuộc sống chung ảo này lại chia tay thêm một lần nữa vào năm 1999, “ do không cùng có chung những ưu tiên trong cuộc sống ” (chi tiết này không có trong sách của Barett nhưng xuất hiện trên một mạng Internet không được phép). Ngay sau đó ông chủ của Controlware lập gia đình với Amelia Gender nhưng tin đồn quả quyết rằng ông đã cho ghi vào trong hôn ước một điều khoản cho ông cái quyền mỗi năm được sống một “ cuối tuần lớn ” với Shannon. Bảy mươi hai giờ “ động não ráo riết ” để cho, một cách chính thức, hai nhân vật tìm gặp lại nhau để suy nghĩ về tương lai của thế giới, của những kỹ thuật, của con người, v.v…

Pierre đọc trên tờ chương trình Emma từ nay là CEO and co-founder[18] (chủ tịch và đồng sáng lập) của Berkings & Shannon. Tên của công ty này hoàn toàn xa lạ với anh. Rồi một ý tưởng hiện ra một khoảnh khắc trong đầu anh, rằng Emma đâu có danh tiếng gì to tát để biện minh cho sự có mặt của nàng ở đây, giữa những executive women[19] tầm cỡ thượng hạng, nàng được mời đến nhờ mối quan hệ với Dan hơn là nhờ tài cán của riêng nàng. Suy nghĩ kiểu này chắc sẽ làm nàng Công chúa Shannon giận tím mặt. Tấm ảnh, ngược lại, phản ánh đúng  chân dung nàng mà anh còn giữ trong trí nhớ. Emma đã không thay đổi nhiều lắm trong mười hai năm qua. Pierre tự nhủ gặp lại nàng thì cũng vui thôi.

Trong phòng điều khiển máy móc của hội trường, mọi sự có vẻ hoạt động bình thường. Năm nhân viên kỹ thuật đang ở vị trí của mình. Pierre đi kiểm tra để các micrô và máy tính hoạt động tốt ở các phòng họp phụ, nơi các hội thảo nhóm – workshops, như mấy quý bà này nói – bắt đầu lúc 10 giờ như đã định. Rồi anh trở lại sân hiên : nữ tổng thống nước Chi lê, Michelle Bachelet, sẽ nói chuyện ở đây trong buổi ăn trưa. Hai kỹ thuật viên đang hối hả lắp đặt các màn hình chuyển tiếp và mấy cái loa to đùng.

Anh bỗng nghĩ đến lại lá thư fax của Franck. Nó có đưa ra lời giải thích nào về việc Internet bị  tê liệt không ? Từ ngày bắt đầu làm việc trong lãnh vực tin học, Pierre đã thấy đủ thứ chuyện thượng vàng hạ cám, nào sự cố, nào virus, nào bug…Thông thường, anh hiểu khá nhanh các nguyên nhân. Hay là anh nhờ một tên bạn, cựu thành viên của nhóm Doomsday[20], nói cho biết rõ. Doomsday hồi đó là một băng bạn thân, trong những năm 1980, vui đùa bằng cách trộm các chương trình tin học. Chẳng có gì độc hại lắm đâu, chỉ là những sự đột nhập nhỏ nhặt và thú vị, chính là để chứng tỏ mình giỏi hơn thôi. Mỗi khi có ai giới thiệu anh là một cựu tin tặc, Pierre phản đối quyết liệt. Cũng như anh, phần lớn những tên bạn thân tin tặc đó đã quay về chính đạo. Họ đã tìm được việc làm lương cao ở các bộ phận nghiên cứu thuộc các công ty sản xuất phần mềm chống virus.

Anh nhớ lại virus Slammer vào năm 2003 đã tấn công ngay trung tâm hệ thống Internet và thâm nhập, bên cạnh các nạn nhân khác, nhà máy nguyên tử Davis-Bess ở bang Ohio, Mỹ. Và chính một trong những tên bạn ngày xưa đó đã tìm ra đầu tiên miếng đánh trả. Ngày nay Internet được bảo vệ nghiêm nhặt. Hệ thống được ghép đầy những bộ phận dò bắt đủ sức báo động đến các chuyên viên mỗi khi có cái gì bất thường xuất hiện, ví dụ như giao lượng nhiều (hay ít) bất thường trên một mạng hay một nhóm đang “ chat ”. Trên nguyên tắc, phải cần gần hai giờ để các chuyên viên nhận diện cái triệu chứng mới và kích hoạt các phương tiện phòng chống. Một cuộc tấn công, theo những tên sành sõi trong nghề, chỉ có thể gây thiệt hại lớn nếu nó vừa ào ạt, vừa được lan truyền rất nhanh. Dưới mười phút, nói cho chính xác. Về mặt lý thuyết, tình thế giả định này là bất khả. Về mặt lý thuyết…Pierre quá rành tin học để không biết là trong lãnh vực này những định đề thường bị thực tế bác bỏ.

Nhưng sự tê liệt xảy ra ngày hôm nay thì sao ? Điều đáng lo ngại, ngoài chuyện thời gian kéo dài, là chưa ai tìm ra được nguồn gốc. Và việc các hệ thống điện thoại di động bị tắc nghẽn cũng gây khó khăn cho sự trao đổi giữa các chuyên viên.

Anh đi đến quầy lễ tân. Thực vậy, một thư fax đang chờ anh. Trong khi  nhân viên lễ tân rời quầy đi lấy nó, anh đưa mắt nhìn lên màn hình TV treo sau quầy; trên đài TF1, bản tin ngắn đặc biệt lại dài dòng với hình ảnh dòng người sắp hàng trước quầy check-in ở các phi trường Nice và Orly. Một quan chức  SNCF[21] đọc như thuộc lòng trước micrô bản tuyên bố khuyên khách hàng ngừng đặt chỗ trên trang mạng sncf.com. Tiếp theo, người ta nghe cái giọng như dế gáy của tên phóng viên thường trú của đài ở Seoul nói qua điện thoại, cho biết là khắp Hàn Quốc hệ thống di động và Internet đều bị tê liệt từ vài giờ nay, và ở nước đó, sự cố đã biến thành nỗi kinh hoàng tập thể.

Thực vậy, thư fax của Franck liên quan đến việc Internet ngưng trệ. Đó là một bài báo bằng tiếng Anh, viết cho ấn bản trực tuyến của zdnet, một tờ báo chuyên ngành, mà chính Franck đã nhận được qua fax. Pierre bắt đầu đọc nó khi đi bộ lên cầu thang, vì lần này các thang máy đều ngừng chạy.

 

Một cuộc tấn công ồ ạt làm tê liệt cột sống Internet

 David Blast và Terry McGuire

         Zdnet.com

         Washington, thứ ba 11 tháng 9 – 2007, 11 giờ 30.

 

         Một cuộc tấn công ồ ạt được sửa soạn và phối hợp công phu, bắn trúng tim hệ thống Internet từ 8 giờ 46 phút. FBI[22] xác nhận chắc chắn đây là cái mà các chuyên viên gọi là một sự từ chối dịch vụ được phân tán (distributed denial of service). Kiểu tấn công này gây ra hiện tượng các dữ liệu chạy dồn dập trong các hệ thống cho đến khi chúng bị nghẹt ứ. Biết cuộc tấn công này từ đâu ra không ? David Wray, phát ngôn viên của Trung tâm quốc gia bảo vệ các cơ sở hạ tầng, trả lời rằng còn quá sớm để biết được nguồn gốc và những tác nhân của hành động nguy hại này. FBI xác nhận rằng mười trên mười hai máy chủ sơ cấp bỗng dưng ngừng hoạt động, tất cả cùng một lúc, ngày thứ ba, lúc 8 giờ 46 phút. Cuộc tấn công còn tái diễn một giờ sau đó và đã làm tê liệt máy chủ thứ mười một. Những máy tính này, được gọi là máy chủ sơ cấp (hay root server, máy chủ gốc), lập thành bộ phận đầu não thực sự của Internet. Thực vậy, khi người sử dụng Internet gởi một thư điện tử hay truy cập vào một trang mạng, cái địa chỉ mà họ đánh vào (ví dụ như www.cnn.com) phải được phiên sang một con số. Con số này thì gồm bốn lốc, mỗi lốc có ba ký hiệu đi từ 000 đến 255 (ví dụ như 234.020.123.143) và được gọi là địa chỉ IP, đây mới là địa chỉ thực sự của trang mạng. Nó được lưu trữ trong các máy chủ sơ cấp đáng chú ý này, nằm rãi rác khắp thế giới. Như thế các máy chủ hoạt động như những niên bạ khổng lồ mà hàng triệu người vào tham khảo hàng ngày.

         Một cuộc tấn công trước đó, nhắm vào các máy chủ sơ cấp đã xảy ra vào tháng mười hai năm 2000. Amazon, eBay, Yahoo và các tên tuổi lớn trong lãnh vực thương mại điện tử đã bị phong tỏa nhiều giờ liền. Nhưng vào thời đó chỉ có tám máy chủ bị virus thâm nhập và hệ thống toàn cầu chỉ đơn giản là bị chạy chậm lại.

         Sự từ chối dịch vụ là một phần của những mũi tấn công đột ngột vào Internet, nhưng cuộc tấn công ngày hôm nay hình như rộng khắp và bạo liệt chưa từng thấy. Người ta lo ngại rằng cả mười ba máy chủ đều cùng bị chặn, trước khi có thể sửa chữa kịp. “ Sự phong tỏa tuyệt đối chỉ là vấn đề vài giờ thôi, có lẽ vài phút, theo lời tuyên bố của Louis Touton, phó chủ tịch của  Internet Software Consortium. Đó là một cuộc tấn công ồ ạt nhất mà chúng ta biết được trong lịch sử Internet.” Nhiều vị trách nhiệm của những máy chủ sơ cấp mà chúng tôi liên lạc được xác nhận lời tuyên bố trên nhưng yêu cầu giấu tên. Một người trong số họ đã dùng từ “ sóng thần tin học[23]”.

 

Tới tầng của mình, Pierre buột miệng chưởi thề. Anh đã hiểu cái gì giấu đàng sau vài từ kỹ thuật dùng trong bài báo : đây chính là một cuộc động đất tin học, một cơn sóng thần loại mới. Internet là mục tiêu của một virus hủy diệt. Một con sâu bọ hung hãn và dai dẵng hơn cả Blaster, Slammer, SoBig và tất cả dòng vô tính của chúng được lưu thông trong mấy năm gần đây.

Quá trình tấn công thì đơn giản. Một virus cách mạng, kín đáo trong cách tiếp cận, đủ sức tự kích hoạt vào ngày, giờ tự chọn, đã được phân tán – chắc là qua thư điện tử — trong hàng triệu máy tính. Con virus này đã biến tất cả bộ máy tính này thành ma quỷ, thành nô lệ tuân lệnh một cách mù quáng. Và tất cả đám ma quỷ này, vào một khoảnh khắc định trước và đồng thời, gửi những đòi hỏi đến những máy chủ trung tâm của Internet, gửi nhiều đến nỗi chúng làm tê liệt cả hệ thống.

Tuy nhiên, một sự tê liệt như thế có vẻ khó tin. Bởi vì, ngoài mười ba máy chủ DNS sơ cấp mà bài báo nói đến, còn có hàng ngàn máy chủ gọi là “ gương ” được dùng như thể là những niên bạ trung gian; khi một người sử dụng Internet tìm kiếm một trang mạng, lời yêu cầu của họ không đi thẳng đến máy chủ sơ cấp mà đến một trong những máy chủ “ gương ” để được xử lý. Nhưng sự thể có vẻ không tin được là mấy máy chủ “ gương ” này cũng đều bị tê liệt hàng loạt. Ngoài ra, Pierre tin rằng chuyện mười ba máy chủ đáng chú ý trên đều bị khuất phục cùng lúc là điều gần như bất khả. Chúng, tất cả, đều được trang bị với những hệ thống an ninh đủ sức báo động ngay khi mức độ trọng tải lên quá cao, ít nhiều giống như một con  sông dâng nước đe dọa tràn bờ. Nếu các tín hiệu báo động này không hoạt động, có phải điều này có nghĩa là chúng đã bị vô hiệu hóa bởi ai đó làm việc ngay bên trong các phòng chứa các máy chủ này không ?

Một giả thuyết khó mà nuốt cho trôi. Phần lớn những máy chủ, trong thực tế, là do các đại học nắm giữ. Về mặt nguyên tắc, một tin tặc không tấn công vào những tổ chức kiểu này. Cộng đồng tin tặc sẵn lòng chọn lựa những tập đoàn công nghiệp lớn, những doanh nghiệp độc quyền, hay Dan Barett, nhưng không bao giờ tấn công các cơ sở giáo dục hay các hội đoàn phi lợi nhuận. Một kỷ luật không chính thức được tôn trọng trong lòng cộng đồng, một quy tắc về hạnh kiểm tốt của quý ông tin tặc. Họ nghe Bob Dylan hát Khi ta chọn sống ngoài vòng luật lệ, thì cũng phải chọn làm người lương thiện. Họ ngưỡng mộ Legion of Doom và Chaos Computer Club, nhưng thực ra họ tìm cách phá hủy thế giới thì ít hơn là tìm cách chỉ ra cách nào để thế giới vận hành tốt hơn. Phải chăng cái hiệp ước ngầm giữa các hiệp sĩ tin học đã bị hủy bỏ ?

Pierre có trực cảm là anh đang chứng kiến một cuộc tấn công không những mang tầm cỡ khác hẳn những cuộc đụng độ tin học lẻ tẻ, nhỏ nhoi mà thế giới từng biết đến nay, mà nó còn nhắm đến mục tiêu rất khác nữa.

Phía dưới trang thứ hai Franck viết vội vài chữ. Dưới ánh sáng được làm dịu trong hành lang, Pierre thấy khó nhận ra nét chữ li ti của tên bạn mình. Anh đi vào phòng và để lá thư fax dưới ngọn đèn halôgen trên bàn giấy. Lúc đó anh mới đọc được rõ rệt :

“ Pierre, lần này chính là Đại Số Dách[24].” Đại Số Dách được gạch đít ba lần.

Pierre ngồi phịch xuống giường, đầu như phát điên. Không thể nào như thế được ! Tay Franck này cường điệu quá đi.

Đại Số Dách. Con virus tột cùng. Không ai trên đời này có thể chống đỡ nó

được. Nó sẽ làm tan tành các hệ thống. Làm tê liệt các máy móc, các trang thiết bị hiện đại. Các máy chủ của các doanh nghiệp, các đài kiểm soát không lưu, các tổng đài điện thoại, các sở chỉ huy an ninh, các nhà máy nguyên tử, v.v… và Pierre cũng biết đoạn tiếp theo. Đại Số Dách, đó là bệnh dịch hạch số, là bệnh thổ tả của xã hội điện tử. Bệnh truyền nhiễm ảo không ai biết thuốc giải độc.

Đó là cơn mộng dữ lâu đời của những ai trong nghề tin học. Cơn mộng dữ này giờ đây đang thành hiện thực đó.

 

……………………………………………………..

 

 

Trích đoạn 2 (Chương 21)

 

Ở bãi Gold Beach, mực thủy triều xuống thấp để lộ toàn bộ các xà lan bằng bê tông to đùng, vết tích của Port Winston, một vụng cảng nhân tạo do quân Đồng minh xây dựng phục vụ cho cuộc đổ bộ. Emma thích chỗ này, vì khác với biết bao cảnh biển khác, nó không bị các tên chủ đầu tư địa ốc khai thác rầm rộ. Nàng thích đi theo con đường nhỏ chạy lên vách đá nhô cao trên biển và nhìn từ trên cao ngôi làng thu mình nhỏ lại dưới mái nhà đá đen. Hay là như hôm nay, ngày nước triều lớn, nàng thích đi bộ chậm rãi ra tới mép nước, để gặp con nước đang rút dần ra xa, về phía chân trời.

Nàng càng đi xa bãi đậu xe thì tiếng kèn xe cộ càng giảm, được tiếng kêu khàn khàn của chim mồng biển thay thế. Đến chỗ cát ướt, nàng cởi giày cầm tay. Nàng cảm thấy lòng bàn chân lành lạnh, được vuốt ve bởi màng nước rất mỏng, và bãi biển lúc này trông giống như sàn ván được đánh xi; nàng cũng cảm thấy nhoi nhói do các mảnh vụn vỏ sò ốc lạo xạo dưới gót chân. Trong khi nàng đi tới, quay lưng về phía vách đá nhô trên biển của mũi đất Manvieux, các lưỡi sông mà biển bỏ lại đằng sau khi rút đi trở nên khó hơn để đi vòng quanh.

Emma bước đi cho tới mép nước rồi dừng lại, nhìn ra khơi. Từ đây nàng chỉ còn nghe tiếng lúc lắc của những hòn đá cuội và vỏ sò ốc nhào trộn bởi bọt nước. Tất cả quang cảnh này hiện ra rất xúc động đối với nàng từ khi nàng xem cuốn phim của Spielberg, Giải cứu binh nhì Ryan. Nàng không thể lúc nào  bước đi trên một bãi biển vùng Normandie mà không thấy hiện lên những hình ảnh   lính tráng xơ xác, thân thể tan nát dưới làn mưa đạn vào sáng ngày 6 tháng 6 năm 1944. Nửa giờ đầu tiên của cuốn phim khiến nàng bắt đầu lo âu. Phần còn lại thì làm nàng bực mình. Sướt mướt, cung cách Hollywood nhàm chán, biết trước phần kết cả rồi. Trừ phi là chính câu chuyện – một người đàn bà tìm kiếm dấu vết của bốn đứa con trai mất tích trong chiến tranh – đã gây cho nàng cảm giác khó chịu. …

Cái chết à ? Nàng thường đề cập đến cái chết, nhưng không phải với Brad. Với Barett thì có. Emma quả quyết là có cái gì đó sau cái chết. Dan tuyên bố mình theo triết lý bất khả tri. “ Về phương diện phân phối tài nguyên, thì tôn giáo  không có hiệu quả lắm, chàng nói với nàng một ngày nọ, theo cách thẳng thừng của mình. Có những cái ích lợi để làm ngày chủ nhật hơn là đi lễ nhà thờ.” Chàng nghĩ gì về chuyện này ngày hôm nay ? Chàng đang ở đâu ? Bây giờ chàng đã biết cái sau-cái chết thì chàng có đổi ý không ? Nàng nhớ lại cuộc nói chuyện cuối cùng giữa hai người về đề tài này. Đó là ở Ushuaia nước Argentina, vài tháng sau khi đứa con gái Mary của chàng ra đời. Chàng vẫn tin chắc là không có gì trong trí óc con người mà không thể, một ngày kia, lập trình được, dưới dạng một dãy số 0 và 1.

— Vậy sự xúc cảm thì sao, như xúc cảm của bà mẹ trước con mình ? Emma đáp trả. Hôm nay thì anh hiểu cái chết hơn rồi, em chắc thế, phải không Dan ?

Barett không nháy mắt.

— Một ngày kia người ta sẽ biết tách rời các yếu tố của trí óc con người giống như ta tách rời các yếu tố của một phần mềm. Nhưng em có lý, câu hỏi thực sự trong trường hợp này là tự hỏi về tính mục đích của sự hiện hữu của cái “ phần mềm ” này. Tại sao nó được tạo ra ? Với mục đích gì mà người ta nghĩ ra nó ? Vì ai ?

Và chàng đã kết luận bằng một trong những câu nói bí ẩn này mà Emma yêu thích, bởi vì nó mở cửa cho một cuộc thảo luận khác mà hai người sẽ bắt đầu sau này.

— Thỉnh thoảng khi anh quan sát trí óc con người, sự ngạc nhiên mà nó mang lại cho anh thì gần với tình cảm sùng đạo hơn là sự phân tích khoa học.

Emma hạ mắt xuống cát trong khi nước mắt chảy trên đôi má. Cuối cùng thì nàng cũng khóc được ! Nàng cảm thấy nhẹ người khi thấy vị mặn nước mắt trên môi. Nàng khóc tự nhiên, không kiềm chế. Giả như muốn chận lại nỗi buồn rầu se thắt cả cõi lòng thì nàng cũng không thể. Nàng do dự có nên nhảy xuống giữa các làn sóng, tự để mình chìm sâu giữa lòng biển mặn hay không.

Nàng chọn một tảng đá rồi ngồi bó gối, gục đầu giữa hai cánh tay. Tiếng sóng xô bờ át đi tiếng nức nở và nhấn chìm nỗi đau của nàng vào những cụm bọt biển. Nàng ngồi như thế nửa tiếng đồng hồ, người lả đi, mặc cho thân xác mình trút hết cơn buồn khổ.

Khi nàng tỉnh trí lại thì biển vẫn còn xa. Nàng cúi người lượm các vỏ sò ốc nhỏ xíu lấp lánh dưới ánh mặt trời. Đôi mắt nàng đẫm lệ. Nàng mơ hồ cảm thấy rằng cách duy nhất tiếp tục yêu Dan là trả lại công lý cho chàng. Chắc chắn là chàng đã tiên liệu những gì xảy ra hiện nay. Barett là một con người rất thận trọng, chàng đã đưa lên thành nguyên tắc quản lý là công ty Controlware lúc nào cũng phải giữ trong ngân quỹ số tiền tương đương với một năm thu nhập để dự phòng mọi vấn đề. Một người như thế thì không thể nào quên để lại đâu đó, cho ai đó, cái chìa khóa của backdoor. Nhưng mà ai đây ?

Và bất chấp tất cả, nếu chính nàng là người giữ chìa khóa mà nàng không hay biết gì cả thì sao ? Trí nhớ nàng thì rất thất thường, một mặt nó đủ sức ghi nhớ hàng ngàn con số và dữ liệu thống kê, nhưng mặt khác thì đôi khi nó lại quên phứt một cái tên, một khuôn mặt hay một giai đoạn trong cuộc sống của nàng. Vậy thì, nàng tự hỏi, vào lúc nào — và nhất là bằng cách nào — Barett có lẽ đã nói về backdoor với nàng ? Những ý tưởng đêm qua không ngừng quay lại trong đầu nàng. Những hình ảnh cũng vậy, hình ảnh trên TV mà nàng đã bật lên vì không thể chợp mắt, lúc 2 giờ sáng. Đài CNN phát đi phát lại nhiều lần một phóng sự về Barett, một “ nécro ”[25] như các nhà báo thường gọi. Người ta thấy vài cảnh trong cuộc đời ông chủ Controlware : khi còn bé với bà mẹ, được bà gọi tên dùng trong nhà là “ Treo ”; sau đó là với mười hai nhân viên đầu tiên của xí nghiệp, tất cả đều để râu và tóc dài, trừ chàng; cuối cùng là Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc, trong văn phòng của chàng, một không gian đơn giản hết sức, chỉ trang trí bằng vài tấm ảnh : ảnh bộ vi xử lý Pentium, và ảnh Einstein và Henri Ford, Amelia và các đứa con, ảnh Emma và chàng chụp chung trong chuyến đi kinh doanh ở Trung Quốc, tất cả nằm kề chân dung vua Louis XIV. Tất nhiên, Emma chẳng thấy thêm điều gì mới trong cái phóng sự đó.

Không có gì làm nàng ngạc nhiên, ngoại trừ một cảnh ngắn trong đó người ta nhận ra Barett ở Versailles dự buổi tiệc tối xa hoa của Hội những người Bạn Mỹ ở Galerie des Glaces trong lâu đài. Emma còn nhớ buổi dạ hội này, Barett có kể lại cho nàng nghe. Một loại dạ tiệc không thể nào quên được đối với một người Mỹ, dù từng quen gặp các ngài tai to mặt lớn của thế giới. Những người “ khách mời  ”, phần lớn là các nhà tài trợ cho lâu đài, đã trả mười ngàn đô-la cho một chỗ ngồi ăn. Barett được đặt ngồi bên công chúa de Kent, và Steve Rockefeller (chắt của John, chính là nhà tài trợ lớn đầu tiên của Versailles) và Malcolm Forbes, ông trùm báo chí. Những ngọn đèn chùm của hành lang soi sáng, bên ngoài, cái bóng lạnh lẽo của các bể nước trên khoảng vườn Bắc và Trung tâm. Những pho tượng xung quanh đều được rọi sáng. Và một nghệ sĩ ánh sáng đương đại cho quét những tia sáng dọc theo Tapis vert cho tới bể nước Apollon. Cảnh nhìn thật là hoành tráng, giống như dạ tiệc…và các món ăn. Fondant d’espadon sur son lit de courgettes et d’oeufs de caille. Vénus framboisier à la vanille de Madagascar,[26] v.v…Không thể nào dịch ra được. Một bữa ăn do Pierre Gagnaire đứng nấu và các món tráng miệng do Lenôtre sửa soạn. “ Cái anh Lenôtre này, đẳng cấp quá đi, đáng lẽ em nên xem !”, Barett xuýt xoa kêu lên, dù anh chẳng thích ăn các món tráng miệng nói chung gì lắm, khi anh kể lại bữa ăn cho Emma. “ Chính là nghệ thuật nằm ngay trong dĩa đồ ăn đó em ! Sự bố cục, chỉ sự bố cục không thôi, em không thể tưởng tượng nổi đâu ! Các anh chàng đó không những có nhận thức trực cảm về nghệ thuật nấu bếp mà còn về cái đẹp. Và cái đẹp, Emma ơi, em biết rõ mà, chính nó sẽ cứu vớt thế giới. Những anh chàng như Gagnaire hay Lenôtre, nghe anh nói nè, họ sẽ cứu vớt thế giới một ngày nào đó, Dan tiếp tục trong sự cường điệu dễ thương. Emma, lập lại theo anh này ! Lenôtre sẽ cứu vớt thế giới ! Đừng bao giờ quên điều này nghe !”

Emma còn nghe câu nói đó vang dội bên tai. Một trong những câu nói lạ lùng, tiêu biểu này nơi Barett khi chàng bắt đầu tỏ ra cuồng nhiệt. Vả lại, đó là lúc duy nhất mà Dan làm nàng bực mình thực sự : khi thấy lạc hướng vì những lỗ hổng trong các kỷ niệm của cô bạn mình – cái mà anh gọi là “ những lỗ đen trong trí nhớ sống động của nàng ” – chàng đòi nàng lập lại theo chàng câu cách ngôn xuất sắc mà chàng vừa tung ra hay các đặc điểm của một nơi chốn họ vừa đi xem. “ Hạnh phúc không nằm ở chỗ nhận được cái gì mình muốn, nhưng muốn cái gì mình nhận được. Emma, lập lại này ! Nhớ đấy nghe Emma !”, “ Con cái ư ? Ta nên để lại cho chúng đủ tiền để chúng có thể làm những gì chúng muốn, và đủ ít để chúng bị bắt buộc phải làm cái gì đó.”, “ Một nơi chốn đẹp nhất thế giới là đây, dưới mắt em : ngày 29 tháng tư, vào lúc 17 giờ, em đã thấy từ trên cao của Corcovado, hai bãi biển đẹp nhất thế giới, Ipanema và Leblon. Emma, lập lại này ! Corcovado[27] ! Ipanema, Leblon ! Lập lại theo anh nào ! Mỗi khi Barett ra lệnh như thế, Emma cảm thấy khó chịu; nàng không còn chắc chắn đó là một trò chơi nữa, nàng tự hỏi không biết chàng đang bước qua, vào lúc đó, cái biên giới mong manh ngăn cách thiên tài với sự điên khùng. Nhưng rồi nàng cũng quên đi. Cái duyên của Dan, tình thương yêu mà nàng dành cho chàng, cũng như sự cuốn hút nào đó, dù từ lâu rồi giữa họ với nhau thì “ tính dục đã bị vượt qua ” như chàng nói, tất cả các thứ này nhanh chóng chế ngự nỗi bực dọc nơi nàng.

Thủy triều bắt đầu dâng ngược lại. Emma còn ngồi thêm một lát trên tảng đá nhìn biển và để cho những luồng nước đầu tiên dịu dàng trượt qua hai bàn chân nàng và một lát sau sẽ khiến nàng lui về phía bãi cát sỏi. Rồi nàng đứng dậy, quay người đi lên bãi biển để về khách sạn. Lên tới mặt đường, nàng đi dọc nhà hàng La Marine : nó đầy nghẹt khách tụ tập trước màn hình TV. Tiếng huyên náo trong ngôi làng Arromanches vẫn không chấm dứt. Con đường trước khách sạn thì bị chặn lại. Một tên tài xế xe bus đang gây gổ với một gã lái xe kéo, có lẽ vì đã không để anh ta đậu xe. Nhiều người lái xe đã bỏ mặc xe mình trên các lề đường, thậm chí ngay giữa lòng đường. Chỉ có các xe mô tô còn có thể lạng lách giữa đám xe hơi. Emma băng qua đường thì đột ngột phải dừng lại trước một xe tải giao hàng nhỏ đậu chắn ngang đường. Nàng nhận ra bảng hiệu của chiếc xe này : đó là cái lôgô của Lenôtre. Lạ thật ! Nhà thầu ăn uống này đã phải giao các món ăn cho các đại biểu thì có gì đâu mà ngạc nhiên, nhưng điều lạ là trúng vào chuyện nàng nghĩ đến ông làm bánh danh tiếng này chỉ vài phút trước đó thôi.

“ Emma, lập lại theo anh này ! Lenôtre sẽ cứu vớt thế giới.”

Nàng đành nhếch mép cười lúng túng và nghĩ thầm : “ Ông ta không sắp sửa cứu vớt thế giới đâu, cái ông Lenôtre tốt bụng này. Bị kẹt ở đây, như mọi người.”

Vậy mà vẫn có cái gì làm nàng bức bối trong câu nói này của Dan mà nàng không tài nào quên được. Nàng đã cố tìm nhưng cũng vô ích…Dan nói như đinh đóng cột những lời có ý nghĩa với chàng nhưng đối với nàng thì chúng có vẻ vô nghĩa. Trong phần lớn trường hợp, chàng thốt chúng ra để báo cho nàng biết là hai người đang sống cùng “ một thời điểm quan trọng ” và ra lệnh cho nàng đừng bao giờ quên. Nhưng chuyện Lenôtre thì sao ? Các suy tưởng của chàng về ông đầu bếp và cái bí mật của riêng chàng chẳng có lợi ích chi cả. Emma cắn môi. Dan, dù xuất chúng đến mấy đi nữa, đôi khi vẫn nói để không nói gì.

Trong khách sạn, sự náo động đã lên đến đỉnh điểm. Các cô, các bà phụ trách tổ chức cuối cùng đành từ bỏ các phiên họp chót của WAC và hủy buổi tiệc tối bế mạc. Hẳn là họ chỉ còn một mục tiêu : tìm ra xe cộ để đưa các đại biểu về lại Paris.

Vào lúc Emma sắp sửa đặt chân lên cầu thang bộ để về phòng thì Pierre xuất hiện, thở hổn hển. Áo sơ-mi của anh thì đẫm ướt và mở toác một nửa. Tóc anh đen dính vào hai bên thái dương vì mồ hôi. Nàng phải dằn lòng để không nhào vào trong vòng tay anh. Chính anh tiến về phía nàng, đặt bàn tay lên cổ tay nàng. Chỉ cái tiếp xúc đơn giản này mà nàng thấy rung động cả lồng ngực. Một cảm xúc nhanh như chớp và không thể giải thích được. Nàng xoay đầu sang hướng khác.

— Emma ! Em có vẻ không khỏe…

Nàng thích dấu hiệu quan tâm này, dù tình trạng anh thấy cũng chẳng tốt gì hơn.

— Không, không sao…em từ biển về đây và mặt dính bụi nước. Nhưng anh, nói đi, trông mặt anh lo lắng quá ! Mọi chuyện ổn chứ ?

— Mệt đến chết ! Anh trải qua buổi sáng phát điên. Chẳng có gì chạy cả. Làm sao mà sắp xếp mọi thứ với những cái bất thường thế này cơ chứ? Các hệ thống điện thoại thì bị nghẽn. Anh không biết cách nào chở đồ thiết bị xuống Marseille, bình xăng xe tải thì đã cạn hết ba phần tư và các trạm xăng thì chẳng còn một giọt.

Chàng nói mà không rời mắt nhìn nàng. Bộ váy áo của superwoman trên người nàng thì đối chọi với bộ mặt ủ rũ và đôi mắt thâm quầng. Anh thấy ra cổ áo sơ mi nữ khoét sâu của nàng. Người Anglo-Saxon có một từ để chỉ khoảng không gian giữa hai vú đàn bà, cái lũng da màu sữa óng ánh : “ cleavage ”. Từ này cũng đẹp như cái nó chỉ định.

Pierre không muốn để Emma bỏ đi. Ai biết khi nào mới gặp lại nhau ?

— Em đi ăn nhẹ cái gì không ? anh đề nghị.

— Em đã sắp sửa lên phòng đó, em cũng mệt nhừ cả người đây…

Emma cảm thấy không đủ sức ăn ngay cả một ngọn xà lách nhưng nàng vẫn theo anh đến phòng ăn. Nàng thấy các bắp thịt trên vai anh dưới lớp áo sơ mi và quan sát hai cẳng tay rám nắng. Nàng tự nhủ là hai người đã không chọn những tình thế tốt nhất để khởi động. Nhưng khởi động cái gì cơ chứ ? Một tình bạn sao ? Một quan hệ tình ái à ? Nàng không thể làm như chẳng có chuyện gì xảy ra. Và càng không thể phủ nhận sự cuốn hút mà nàng cảm nhận khi gặp anh.

Hai người vào phòng ăn; một tên bồi lại gần bàn họ.

— Đồ uống thì có nước khoáng Perrier hay “ demi ”[28], nhà hàng chỉ còn thế thôi, anh ta nói với giọng chán nản.

Emma gọi một chai Perrier và Pierre một “ demi ”.

— Em biết đấy, anh thở dài, đầu lắc lắc, anh tự hỏi các bạn em có lẽ tốt hơn nên hủy bỏ cuộc họp buổi sáng cuối cùng của WAC. Nó hỗn loạn làm sao ấy ! Chẳng có gì chạy cả.

— Sáng nay thì chạy chứ, Emma đáp trả. Trong buổi hội nghị khai mạc toàn thể, đâu có vấn đề gì.

Pierre đã nghe bài nói chuyện của Emma trong vài phút, anh vẫn thấy mình bị quyến rũ bởi sự đối chọi giữa một Emma Shannon trong vai trò “ bà thầy của vốn đầu tư mạo hiểm ” với các nụ cười ước định và giọng lưỡi quả quyết, và người đàn bà dịu dàng và vô tư lự mà anh đã làm tình ở bãi biển. Anh ước gì ôm nàng trong vòng tay để thấy nàng hóa thân thêm một lần nữa. Nhưng phép lạ thì chỉ xảy ra một lần thôi.

— Đúng thế, cho tới 10 giờ 30, anh cố nói tiếp, nhưng ở các phòng họp khác và buổi họp tiếp theo thì tai họa xảy ra. Hai cái Barco ở tầng một thì bị nổ. Bọn anh đã lọ mọ chắp nối sao đó để cho buổi họp ban trưa, nhưng đến đó thì lại thiếu người họp : chỉ còn ba chục chị em ta là nhiều nhất…

Tên bồi mang đồ uống và hai khay đồ ăn làm sẵn.

— Anh chỉ có mấy thứ này thôi à ? Pierre hỏi.

— Pierre, đừng có kêu ca ! Chính Lenôtre giao đồ ăn nấu sẵn đó. Và bây giờ đã 15 giờ 30 rồi.

— Rồi sao nữa ? Lenôtre hay ai khác, đồ ăn trên khay thế này, anh ăn quanh năm suốt tháng đó ! Anh chán ngấy với mấy thứ cá hồi đông và bánh táo, với mấy con dao nhựa cắt kêu kèn kẹt trên dĩa giấy. Tối nay anh sẽ đi tiệm và…

Emma không để cho anh chấm dứt câu nói và đưa tay cầm ly Perrier.

— Các vị ở Pháp này, các vị làm tôi cười thật đó ! Khi các vị không có được bữa ăn trưa hoàn hảo, nóng hổi, mặn vừa đủ, cho tiêu vừa đủ, ăn suốt hai giờ, thì các vị kêu ca đến điếc tai ! Anh nên đi qua Mỹ thường hơn. Những đầu bếp cỡ Lenôtre, bọn tôi nhập khẩu hàng tá ! O.K., bọn tôi biết làm mấy cái phần mềm, mấy cái cầu dẫn, nhưng các vị thì có những tay làm bánh ngọt xuất chúng ! Ông ta tên là gì nhỉ, cái ông đã tạo ra thương hiệu Lenôtre đó ? André phải không ?

— Chắc chắn là không phải André rồi, Pierre phản ứng. André, chính là người tạo vườn cảnh cho vua Louis XIV. Và tên ông ta viết bằng hai từ cách nhau: “Le” và “Nôtre”. Với chữ N viết hoa.

Emma đặt mạnh ly nước xuống bàn làm nó trào ra.

— Không, không thể thế được !

— Có  chuyện gì vậy ?

— Chờ một chút…

— Nhưng gì cơ chứ, nói đi !

Emma nhìn chằm chằm vào mắt Pierre và nói thật nhanh :

— Em vừa hiểu ra điều gì đó. Pierre, phải đi đến Versailles, giải pháp ở ngay chỗ đó, em chắc mẫm như thế !

— Cái gì? Em muốn đi đâu đây?

Nàng nói nhanh đến nỗi anh chỉ hiểu được một nửa câu nói. Anh bảo nàng lập lại. Trễ quá rồi. Emma Shannon đã rời khỏi phòng ăn và vội vã đi về phía sảnh khách sạn.

——————————————————————————————-

 

 

 


[1] Một loại vải trước làm ở nước Anh, có mô típ bằng đường thẳng cắt nhau, với nhiều sắc độ khác nhau nhưng cùng một màu.

[2] Nữ doanh nhân.

[3] Cựu đệ nhất phu nhân Mỹ, hiện là Bộ trưởng ngoại giao Mỹ.

[4] Nữ chính trị gia Pháp, cựu ứng cử viên tổng thống Pháp.

[5] (1953-2007) : Cựu nữ thủ tướng nước Pakistan. Đã bị ám sát vào tháng 12-2007.

[6] Nữ chính trị gia nước Colombie, sinh năm 1961, bị bắt làm con tin 6 năm (2002-2008).

[7] Double-crème : phó mát (fromage) có chất béo trên 60%.

[8] “siêu phụ nữ”

[9] PME : viết tắt của Petites et Moyennes Entreprises ( các doanh nghiệp nhỏ và vừa).

 

[10] (1890-1969) : Tư lệnh quân Đồng minh trong cuộc đổ bộ 6-6-1944 ở Normandie. Sau này là Tổng thống Mỹ (1952-60).

[11] Có thể vừa nhận vừa gửi tin

[12] “Chào Mừng bạn đến Đại hội Phụ nữ Thường niên”

[13] Tên một đại lộ trung tâm của thành phố Marseille, Pháp.

[14] Tên đầy đủ là Institut des Sciences Politiques (Học viện Khoa học Chính trị) ở Paris.

[15] Viết tắt của Curriculum Vitae, bản ghi tóm tắt (thường 2 hay 3 trang) quá trình học vấn, đào tạo và kinh nghiệm làm việc, cần thiết khi đi xin việc làm.

[16] Manufacturing Message Services : Dịch vụ thông báo sản xuất

[17] Bộ nhớ khả biến  (thuật ngữ tin học) cho phép người sử dụng đọc hay sửa đổi tùy ý nội dung chứa đựng trong nó.

[18] Tiếng Anh và in nghiêng. CEO là viết tắt của Chief Executive Officer, hay Tổng Giám Đốc, chứ không hẳn là chủ tịch như tác giả viết trong ngoặc.

[19] Phụ nữ lãnh đạo ở các cơ quan công quyền hay các doanh nghiệp…

[20] Ngày tận thế.

[21] Viết tắt của Société Nationale des Chemins de Fer (Hãng xe lửa quốc doanh, Pháp).

[22] Viết tắt của Federal Bureau of Investigation : Cục Điều tra Liên bang (Công an nước Mỹ)

[23] Nguyên văn : “tsunami informatique” (trang 38).

[24] Nguyên văn in nghiêng : Big One (trang 40)

[25] Viết tắt của từ “nécrologie”, ở đây có nghĩa tiểu sử một nhân vật vừa mới qua đời.

[26] Dù tác giả cho là “intraduisible”, (không thể dịch được, có lẽ sang tiếng Anh vì nhân vật Barett  là người Mỹ), trang 237, người dịch cũng cố gắng chuyển tên các món ăn này sang tiếng Việt để độc giả có một ý niệm tương đối : “Cá kiếm hấp mềm đặt trên bí ngòi xanh và trứng cút luộc. Bánh quả mâm xôi với va-ni Madagascar”. Vénus, theo thần thoại La Mã, là nữ thần tình yêu và sắc đẹp, dùng đặt tên cho món tráng miệng này cho có vẻ “văn hóa” chứ không có ý nghĩa cụ thể nào cả, còn va-ni đến từ đảo quốc Madagascar thì đắt tiền nhất và có tiếng là thơm ngon nhất trong tất cả các loại va-ni khác.

[27] Corcovado là ngọn núi đá cao 715 mét nằm ngay trung tâm thành phố Rio de Janeiro (Brazil), nổi tiếng thế giới với tượng Chúa Giê su cao 38 mét đặt trên đỉnh núi. Ipanema và Leblon là hai bãi biển gần đó.

[28] Cốc bia có dung tích ¼ lít.

Read Full Post »

Tác giả : Victor SEGALEN (1878-1919)
Người dịch : Quế Sơn  (Dịch theo nguyên tác tiếng Pháp :”René Leys”, ấn bản năm 2000)
Nhà Xuất bản TRẺ, 2011.

Đây là quyển nhật ký hư cấu của Victor Segalen ghi lại những cuộc phiêu lưu kỳ lạ của René Leys trong bối cảnh một triều đại Mãn Thanh suy tàn. Chàng trai trẻ Leys có những tố chất mà Segalen không có để thâm nhập vào thế giới quyền quý Mãn Thanh. Để thực hiện giấc mơ của mình là vào Tử Cấm Thành, quan sát thâm cung từ bên trong, Segalen tự đặt mình vào vai của Leys bằng liệu pháp tưởng tượng. Làm như vậy Segalen không ngờ rằng sống một cuộc sống khác theo lời kể của người khác là một quá trình đầy rủi ro và nguy hiểm, cho cả người nghe và người kể chuyện. Khi đọc quyển sách này, bạn đang tự đặt mình vào vai của Segalen, người tự đặt mình vào vai Leys để khám phá thế giới Mãn Thanh qua hai lần liệu pháp tưởng tượng. Một chút rủi ro nguy hiểm còn lại, bạn hãy lấy nó làm niềm vui. Cuốn sách thuộc Tủ sách Cánh cửa mở rộng – Tủ sách hợp tác giữa nhà toán học Ngô Bảo Châu và nhà văn Phan Việt với Nhà xuất bản Trẻ. (Lời giới thiệu ngắn của NXB Trẻ trên trang mạng http://www.nxbtre.com.vn)

Mời các bạn “Xứ Nẫu” đọc hai trích đoạn của cuốn tiểu thuyết viết cách đây gần một thế kỷ, 1916, (và xuất bản lần đầu năm 1923, sau khi tác giả qua đời) nhưng không mất đi tính hiện đại và cách tân của nó. Segalen là một bác sĩ hải quân Pháp, nhưng sống ở Bắc Kinh nhiều năm, trở thành một nhà khảo cổ học có tiếng tăm trong cuộc khai quật các di tích của Tần Thủy Hoàng. Ông cũng là một nhà thơ : tập “Stèles” (Bia mộ) của ông, tuy lúc đầu in ra chỉ có 81 bản, nhưng nhiều năm sau được các nhà thơ lớn của Pháp hết lòng ngưỡng mộ.
Số phận của tiểu thuyết “René Leys” cũng khá lạ kỳ, không khác gì cái chết bí ẩn trong rừng khi đi dạo của Segalen : Nó chỉ được tái bản lần đầu vào năm1971, gần 50 năm chìm trong bóng tối, và dấy lên làn sóng hâm mộ và tìm hiểu về tác giả ở Pháp cũng như ở các nước khác. Tên ông được chọn đặt tên cho một đại học ở Bordeaux (Pháp).
(Quế Sơn, người dịch, 23-12-2011)
Bắc Kinh, 20 tháng 3, 1911
— Thế là tôi sẽ không biết gì hơn nữa. Tôi không cố nài; tôi sẽ lui ra… một cách kính cẩn, cứ cho là như vậy, và tất nhiên đi thụt lùi theo Triều nghi, vì đây là Hoàng Cung; một cuộc bệ kiến đã không được ban, và sẽ không bao giờ được ban nữa…
Chính bằng lời thú nhận này – lố bịch hay khách khí, tùy theo cách nhìn nhận – mà tôi đành kết thúc cuốn nhật ký này, trước khi viết quá nhiều, dù tôi từng hy vọng biến nó thành một cuốn sách. Sách cũng sẽ không có. (Vậy thì một quyển sách chết đi chỉ còn lại một cái tựa đẹp: “Cuốn Sách chưa từng hiện hữu!”).
Tôi cứ tưởng là đã nắm được nó, “hoàn chỉnh” hơn, dễ bán được hơn bất cứ cuốn tiểu thuyết có bản quyền nào, cô đọng hơn bất kỳ sự kết tụ nào khác của những cái gọi là tư liệu con người. Hay hơn bất cứ câu chuyện tưởng tượng nào, mỗi cú nhảy vào thực tại của nó sẽ mang quyền năng của toàn bộ ma lực bị giam hãm trong những bờ thành này… nơi tôi sẽ không bao giờ vào được.
Không ai có thể phủ nhận Bắc Kinh là một kiệt tác của sự thành tựu đầy bí ẩn. Và trước hết, tam trùng thành quách của nó thì không tuân theo các qui tắc của các đám đông đã vào sổ bộ, cũng như không đáp ứng các nhu cầu cư trú của những con người ăn ở nơi đây. Bởi vậy, kinh đô của Đế chế lớn nhất Thiên hạ đã được xây dựng cho chính nó, được vẽ ra như một bàn cờ ở cực bắc vùng bình nguyên hoàng thổ, với những bức tường thành ngay ngắn bao quanh, với những con đường rộng cắt ngang, lại được kẻ ô với những ngõ ngách thẳng góc, rồi được kiến tạo liền một mạch từ đầu đến cuối một cách hoành tráng…Tiếp theo, những người sống bám vào nó, các thần dân Trung Hoa đó mà, đến cư ngụ, rồi cuối cùng thì họ tràn ra các khu ngoại ô ám muội. Nhưng cái hình vuông chính, tức khu thành Thát Đát – Mãn Châu tới nay vẫn còn là một nơi trú ngụ tốt đẹp cho những kẻ chinh phục – và cho giấc mơ này…
Bên trong, tận cùng trung tâm của Hoàng Cung có một khuôn mặt: một đứa trẻ con-người lớn, Hoàng đế, Vua cõi trần và Con của Trời (mà mọi người, và các nhà báo trên thế giới cứ ngoan cố gọi tên là “Quang Tự”, đó chỉ là niên hiệu trong thời gian ông ở ngôi thôi, tức là từ năm 1875 đến 1908). Ông đã sống thực sự, dưới cái tên sinh thời của mình mà không ai dám gọi… Ngài – và vì không thể gọi tên ông, tôi đành thêm vào cái đại từ châu Âu đó tất cả sự tôn kính của điệu bộ Mãn Châu (hai ống tay áo đưa lên cao cùng hai nắm tay chắp lại trước trán cúi thấp) để chỉ Ngài… Trong cõi nhân sinh, Ngài vẫn là hình ảnh và biểu tượng hóa thân của kẻ bi thống nhất và tất phải chết hơn bất kỳ ai khác. — Người ta quy cho Ngài những hành động bất khả… và cũng có thể ngài đã thực sự làm những việc này.Tôi tin chắc rằng Ngài đã chết vì mười chứng bệnh hoàn toàn tự nhiên (ngày nay không ai còn chết vì những bệnh này nữa), nhưng trước hết vì chứng bệnh thứ mười một (không mấy người thấu hiểu) là chứng làm Hoàng đế – tức là nạn nhân được tiền định từ cả bốn ngàn năm để làm kẻ hiến sinh trung gian giữa Thiên đình và Dân gian dưới cõi trần…
… và nơi chốn ngài hiến sinh, cái khu vực chung quanh có tường cao bọc kín mà người ta giam hãm con người Ngài – cái Tử Cấm Thành đang giương thành lũy chặn bước chân tôi – đã trở thành sân khấu duy nhất khả dĩ cho tấn tuồng này, cho Câu chuyện này, cho cuốn sách này, vì nếu không có Ngài, thì nó chẳng còn lý do gì để tồn tại…
Thế nhưng, tôi đã cố gắng hết sức để đón nhận sự Hiện diện của Ngài, để nối lại với nhau, ở bên ngoài tường thành, những hé lộ mang tính hồi ức về “Đại Nội”. Về việc này, tôi trông cậy vào sự thâm nhập nhờ nghề nghiệp chuyên môn của các bác sĩ châu Âu cùng chủng tộc với tôi. Họ ở đó kìa, sinh sống và hành nghề dọc theo “đường Công sứ quán”, ngay chỗ đầu xả các ống cống ngầm từ Hoàng Cung ra, họ sẵn sàng len lỏi qua bất cứ khe nứt nào, và một khi đã vào được bên trong, thì sẵn sàng ra tay đâm sau lưng, với tình đồng nghiệp rất ư là thắm thiết, bất cứ người nào tìm cách vào đó như họ. Một hôm Hoàng thượng cho vời viên bác sĩ của một nước nào đó, và Công sứ quán của nước đó được dịp huênh hoang, a, chỉ mình ta thôi, được lãnh trách nhiệm chăm sóc Thánh thể. Hai hay nhiều bác sĩ tầm cỡ “Cao đơn hoàn tán” sẽ cùng lúc tự tâng bốc là chỉ có riêng mình được triệu vào, được hỏi ý kiến thôi, và trở thành mục tiêu gièm pha duy nhất của tất cả thầy thuốc còn lại khác. Và họ nhìn nhau mặt lạnh như tiền. Ôi, chính họ là những người trung gian mà tôi đã phải tiếp cận đấy. Tôi thấy lo sợ là mình sẽ vấp phải bí mật y khoa khi hỏi han chuyện này, việc nọ. Nhưng họ chỉ tiết lộ vài điều vô thưởng vô phạt dính dáng đến nghề nghiệp thôi… Các báo cáo của họ đều viết trên cùng một thứ giấy, với cùng những từ ngữ đao to búa lớn hợp vệ sinh mà họ phô ra một cách khó coi, và làm khổ bất cứ tên khách hàng trưởng giả nào của mình! Họ xác nhận rằng Ngài, đấng Chí tôn, bị nghi là mang những khuyết tật trẻ con, những thứ mà một tên hậu duệ hỗn hào nào cũng có thể trút tội lên đầu cha mẹ mình… Họ kết luận rằng đó là sự biến chất tai hại… Tóm lại, Thiên Tử càng ngày càng suy nhược, héo hon vì một chứng bệnh… di truyền!
Thấy tởm lợm vì sự dốt nát phạm thượng của các tên đồng hương của mình, tôi đành quay sang phía khác: các viên Thái giám bản xứ. Đây là một phường hội khác, cũng danh giá không kém, nhưng khép kín hơn, độc quyền hơn. Không phải ai muốn vào thì cứ thong dong bước vào đâu: người ta đòi hỏi trước hết phải có bằng cấp. Các chức vụ thì rất hạn chế, với một vài sửa đổi dành cho ngoại lệ. Chính nhờ vậy mà tư cách làm cha được cho phép ở các thái giám cấp cao, còn sự phản bội thì ở mọi cấp.
Tôi đã tìm cách mua chuộc một trong các nhân vật này. Nhưng kết quả không tương xứng với số tiền bỏ ra: tưởng gì chứ tôi biết quá nhiều về mấy cái giai thoại nhàm chán mà báo chí địa phương khai thác để nuôi dưỡng các trang báo; và thật tình mà nói, tôi đã không thu thập được một bí mật phòng the nào. Tôi không trách giận các anh thái giám này đâu: phòng the, với định nghĩa là rèm và một khoảng phòng cạnh giường, rất có thể là không tồn tại trong Nội Cung.
Chỉ còn các bác sĩ Trung Hoa. Được trang bị với những công thức pha chế nước ngoài nhưng trung thành với toàn bộ dược liệu bản địa có sẵn, họ rất đỗi tự hào về kiến thức đáng gờm như con dao hai lưỡi của mình. Một trong những thầy thuốc giỏi nhất, sau một bữa ăn tối ngon lành tại nhà tôi – cũng chính bằng cách nấu ăn nửa Pháp, nửa Bắc Kinh đó – đã vui lòng kể lại, diễn tả bằng điệu bộ sống động trước mắt tôi, cố làm cho tôi hình dung ra cảnh này: một cuộc chẩn bệnh ngay trong lòng Nội Cung. Viên bác sĩ quỳ cúi đầu sau khi đã thực hiện ba lần khấu đầu ba cái. Hoàng đế, và Lão Thái hậu đáng sợ, thì ngồi cao hơn tất cả các tầm mắt. Khi được hỏi, viên bác sĩ không dám mở miệng để nói. Họ ép ông nói. Vậy là, một cách cực kỳ kính cẩn ông hỏi “Long thể Bệ hạ bất an ở phần nào…”
Lão Phật gia uy nghiêm trả lời thay Ngài “rằng tâm dịch khuấy động dưới lớp bì phu của Hoàng thượng…”
Viên bác sĩ lại cực kỳ kính cẩn đề nghị món thuốc nào đó. Ông đã quên mất là thuốc gì (dĩ nhiên, không được là thuốc uống của nước ngoài! – người ta hẳn sẽ kết ông nào là tội phản bội, nào là tội âm mưu đầu độc; lại càng không phải là loại hoàn tán Trung Hoa! – bởi vì người ta triệu ông đến là do kiến thức y khoa học ở nước ngoài của ông kia mà).
Tuy nhiên ông vẫn nhớ chính xác cái ấn tượng chủ quan sau:
“Đối với tôi đầu ông ta có vẻ như không đứng vững trên cổ…”
Ông đã nhớ được điều đó. Tôi chúc mừng ông. Nhưng chuyện chỉ có vậy.
Chuyện chỉ có vậy thôi. Bỏ cuộc sao? Tôi tự cho mình một cơ may cuối cùng để thâm nhập vào Đại Nội. Đó là dùng đến ngôn ngữ của nó là tiếng “Quan thoại miền Hoa Bắc” khó học. Và từ rày về sau, tôi sẽ không cần đến bất cứ tên mối lái nào, bất cứ tên thái giám nào; tôi sẽ chờ cơ hội trực tiếp cho phép tôi…
Nói, hay làm… điều gì cơ chứ? Tôi cũng chưa biết. Để phòng xa, tôi bám chặt vào cái cơ may này và tôi lao đầu vào học từ vựng “Quan thoại” với tất cả sức lực của một kẻ tuyệt vọng. Người ta thường nói là phải dành cả đời, từ tuổi thơ cho đến tuổi già, mới có thể viết và làm luận văn như một tên tú tài tỉnh lẻ, a, thì cũng có thể như thế. Trên thực tế, thiên hạ mở miệng phun ra điều này quá dễ dãi. Tôi có ý thức về các thành tích của mình. Tôi có thể tán gẫu, tôi có thể đàm luận, tôi đã có thể diễn đạt được hầu như mọi thứ. Tôi không biết phải khen ngợi ai hay cái gì đây: chính tôi, tiếng Quan thoại, hay gia sư của tôi. Ngược với mọi lô-gích, ngay giữa đất Trung Hoa, tôi đã chọn một người nước ngoài làm gia sư, một tên rợ không có văn hóa Thánh hiền, và còn hay hơn nữa chứ, một anh chàng người Bỉ trẻ tuổi! Chàng ta có năng khiếu lạ lùng là học tất cả mọi thứ một cách dễ dàng, và có lẽ dạy lại cho người khác mọi thứ cũng dễ dàng như thế, đó là điều làm tôi thích thú vô cùng. Chính thức thì chàng giữ ghế giáo sư môn “Kinh tế Chính trị” ở trường Quốc Tử Giám. Ở bất cứ đâu khác thì chuyện này có thể làm tôi lo ngại đấy… Nhưng chúng tôi đã thỏa thuận rằng để thông hiểu nhau hơn, chúng tôi sẽ chỉ nói tiếng Trung với nhau.
Chàng gia sư của tôi có lẽ sẽ cực kỳ ngạc nhiên khi biết mục đích thực sự các buổi nói chuyện giữa chàng và tôi. Chàng là đứa con ngoan ngoãn của người chủ cửa hàng thực phẩm tuyệt vời ở khu Công sứ quán. Trước đây thì tôi không nhận ra chàng bên cạnh mấy cái cân trong tiệm của ông bố khi vào mua đồ. Nhưng chàng nói với một sự kính trọng sâu sắc về cha mình, về việc buôn bán, gia đình, “tiền tiết kiệm”, về đầy tớ, ngựa xe, về những nguyên tắc của cha. Chàng rõ ràng tin rằng ở Bắc Kinh người ta không thể có một cách sống nào đáng trọng hơn cách sống của cha mình… Thích văn chương, chàng đang đọc lại Paul Féval.
Nếu tôi thành công, ừ, nếu tôi vào đến… nơi mà tôi không còn hy vọng vào đến thì chàng sẽ là người đầu tiên kinh ngạc trước sự thành công của tôi, và cả kinh hãi nữa khi phát hiện ra phần mình trong đó… mặc dù như tôi đã nói, tôi khó có khả năng thành công.
Chàng là một thầy giáo giỏi. Tôi đã thuê chàng dạy thêm một tháng nữa. Và ngay đây tôi nói trước là tôi từ bỏ mọi kỳ vọng.
(Chương đầu, từ trang 5 đến 14)

……………………….
X…— Tin vặt trong một tờ nhật báo ở Bắc Kinh: “Binh biến ở tỉnh Hồ Bắc: Sư đoàn Mười đóng ở Vũ Xương vừa đốt phá Nha môn của quan Tổng đốc. Ngài Tổng đốc – đúng là hay thật – đã bỏ trốn. Bọn phiến loạn đã nắm giữ được lực lượng pháo binh và pháo kích các phòng tuyến ở Hán Dương. Trong các nhượng địa châu Âu ở Hán Khẩu, người ta bắt đầu lo sợ…”
Ba thành phố này, hay nói cho đúng hơn, “Tam cấp Thành” này, quá nổi tiếng ở châu Âu nhờ cuốn “Anticipations” của Wells ban cho vị trí lỗ rốn trong nước Trung Hoa. Và với tám triệu (không có bằng cớ) cư dân, ba thành phố này, dù muốn hay không cũng đều là những địa phương cần phải tính đến trong nền chính trị Trung Quốc. Vả lại, cuộc nổi loạn này thì thuộc loại “quân sự” với súng máy và đại bác… Còn nghiêm trọng hơn câu nói lịch sử trước đó nhiều: Đây là một cuộc cách mạng!
Nhưng không thể nào có “cách mạng” ở Trung Quốc được. Ngay cả một cuộc nổi dậy cũng chỉ mới được gọi là có thể! Tuy vậy tôi phải nói chuyện này với René Leys. Chàng là người duy nhất có thể cho tôi biết tầm quan trọng của biến cố “nổi dậy” đó. Chàng cũng là người liên can trực tiếp nếu người ta tấn công vào những triều thần của Đế chế. Vì xét cho cùng, như là thủ trưởng Mật Vụ và Người Tình của Hoàng hậu, chỉ mình chàng – tôi sẽ nói với chàng – phải trả giá đắt gấp đôi, thậm chí gấp mười lần nếu sự trả thù xảy ra.
Tôi không hỏi chàng gì cả, tôi muốn chờ đúng dịp khi chàng có mặt để nghe ý kiến của chàng về chuyện trên. Và chàng đến gặp tôi một cách cực kỳ bí ẩn. Chàng tỏ ra rất ít quan tâm đến một ngày tháng châu Âu nào đó – ngày 11 tháng 10 năm 1911 là ngày sinh nhật tôi chẳng hạn, hình như vậy, và là ngày lễ thánh năm thứ ba mươi lăm của tôi – hơn là việc tổ chức liên hoan mừng nó theo kiểu Trung Hoa: chàng khẳng định dành cho tôi “buổi trình diễn” không phải ở rạp hát mà là ở nhà tôi. Chàng tỏ ra vui sướng với ý định của mình. Chàng hứa với tôi là sẽ có những diễn viên hàng đầu, được trả công cao nhất. Chàng cho tôi biết tên vở tuồng: “Cuộc gặp gỡ trong ruộng dâu”. Chàng đã trả tiền cho đám gia nhân của tôi để họ dựng lên một bệ cao dựa vào bức tường phía tây của sân trong nhà tôi. Rồi chàng đi ra ngoài, khuôn mặt hớn hở một cách thành thật mà từ lâu lắm rồi tôi không thấy chàng biểu lộ.
Hai giờ sau, chàng trở về, đi sau một nhóm tứ tấu gồm một đàn nhị, bộ phách, rồi chiêng, Hoàng đế của cả ban nhạc, và một thứ kèn có âm trầm thường dùng để báo hiệu là các Hoàng thân đang bước vào sảnh. Cuối cùng là chính chàng, đi cùng với các bạn “của mình”.
Tôi thấy vui gặp lại họ. “Đại Kính Tử” và “Tiểu Điệt”, cháu thứ mấy của ông Thân Vương nào đó… Nhưng tất cả đám người này đã biến mất vào trong nhà chái mà tôi thường dùng làm kho chứa các bộ yên ngựa. Một lát sau, ban nhạc ngồi ở cuối sân khấu bắt đầu so dây, chỉnh âm trong tiếng ầm ĩ lạc điệu. Rồi bất ngờ trước mặt tôi, khán giả độc nhất, cuộc biểu diễn bắt đầu! Điều đó coi như là… A, lần này tôi biết rõ điều đó coi như là gì: gánh hát của René Leys và các bạn chàng… Một tổ chức mật vụ mới, chắc là thế… Họ trình diễn, họ múa xoay người trên mũi chân, họ thủ vai một cách chính xác, chuyên nghiệp. Đây nữa, vẫn là những cuộc tỉ thí – bắt buộc đấy – những khúc mở màn, rồi tái đấu, rồi lầm lẫn, nhưng vẫn giữ theo nguyên tắc. Nhờ thụ giáo tốt trước đây, tôi biết rất chính xác khi nào thì nên vỗ tay tán thưởng; – và từ cuống họng tôi phát ra mạnh mẽ và đúng lúc, tiếng “haaảo a!” thay cho tất cả những tiếng vỗ tay om sòm kiểu Paris hay tất cả những tiếng huýt gió chói tai kiểu Mỹ!
René Leys quả thật là dễ mến khi cho tôi xem tuồng tại nhà như thế. Thế thì tôi dại gì mà đắn đo với những tiếng “haaảo a!” của mình. Chàng chỉ cho tôi một người trong bọn họ, người bạn diễn mà giọng nói bị khàn lắm rồi:
– Đúng vậy! chính là người được trả tiền cao nhất đó, vì giọng của anh ta sẽ mau đứt thôi!
Khi chàng đến lại bên cạnh tôi – khiêm tốn, mặt đã lau sạch phấn sáp, mồ hôi còn rịn đôi chút, nhưng hãnh diện và thỏa mãn – tôi biết việc trước tiên là tôi phải khen ngợi chàng… nhưng cũng có cái gì đó đã làm tôi phật lòng, làm tôi bối rối… tại sao phài giấu chàng điều mà tôi đang nghĩ chứ? Thế là tôi nói ra: trong sự trình diễn của chàng có chút gì đó của một diễn viên xoàng nhưng hợm hĩnh, có chút gì đó là nhảm nhí – nhất là ở Trung Quốc – làm tôi thấy khó chịu.
Chàng trả lời, cực kỳ tự tin:
– Ông biết đấy, chính là vì Nàng mê tuồng hết cỡ nói! Nàng bắt tôi hứa sẽ sắm vai này. Ông nói là tôi diễn hay trước ông – a, đó là tất cả những gì tôi muốn nghe đấy. Nhưng tôi phải diễn trước Nàng,… vào ngày kia.
Nàng à? Và tôi lặp lại rất to, vô ý tứ:
– Trước Nàng,… Nàng nào? Trước ai đây?
René Leys không tỏ ra do dự chút nào.
– Trước “Nàng thứ nhất” của tôi. Nàng “kia” thì không thể yêu cầu gì cả.
Chàng trai trẻ này hạnh phúc và đắc thắng làm sao, khi đánh số tình yêu của mình như thế! Cầu cho chế độ đa thê thống trị lâu dài giữa những viên chức thánh thiện nhất của Quốc gia! Tôi hẳn là không thể hình dung ra là Nàng, với các yếu tố đế chế của mình, bị hạ xuống chỉ còn là con số số học. Thế nhưng, René Leys có lý. Vì sự đúng mực, nàng tì thiếp được ban tặng, được chấp nhận, được chiếm hữu, được “khai bảo” đó vẫn là con số hai được ghi theo cột trong hệ thống kế toán mới này.
Tuy nhiên, một cách đứng đắn, tôi muốn chỉ trích chàng, hạ chàng xuống cùng một mẫu số chung, cùng các thừa số chung, nhưng… cách mạng! Trong Hoàng Cung, người ta nói gì về những chuyện xảy ra hiện nay – trong những ngày mà chúng ta sống đây, ở Tam cấp Thành Vũ Xương, Hán Dương và Hán Khẩu?
Nhưng chàng bỏ đi, chân bước nhẹ nhàng, sau khi hạ màn buổi diễn. (Một cử chỉ không thể dịch ra trong ngôn ngữ sân khấu Trung Hoa!) Chàng rất ý thức về việc đã sắm rất tốt “vai diễn của mình trước tôi”. Chàng sẽ an tâm diễn kịch cho Nàng mà không thấy sợ, từ nay về sau. Chàng bỏ đi, bước chân nghe như mãn nguyện.
Tất cả những gì còn lại là cuộc nổi dậy bên sông Dương Tử. Diễn ra cách đây chính xác là một ngàn cây số, ở miền Nam, cuộc nổi dậy ở cũng hơi xa đấy. Và nhìn từ đây, tức từ giữa sân trong nhà tôi, cùng với những phong cách kịch nghệ thanh lịch, thì cũng hơi… tỉnh lẻ.
(Trích từ trang 235 đến 240)

____________

(Chủ thích của người dịch)

[1]  Thành Bắc Kinh được làm mới, mở rộng thêm từ khi Hoàng đế Vĩnh Lạc nhà Minh (tức Minh Thành tổ, ở ngôi 1403-1424) cho dời đô từ Nam Kinh (Kim Lăng) lên. Khi người Mãn Châu chinh phục được Trung Hoa, lập nên triều Thanh (1664-1911), họ cũng chọn nơi này làm kinh đô và không thay đổi gì nhiều về mặt kiến trúc. Nhưng họ dồn người tộc Hán mà họ cai trị ra ở Ngoại Thành (nên khu thành này được người phương Tây quen gọi là “Chinese City” hay “Ville chinoise”), và chỉ để cho người Mãn Châu và đồng minh tin cậy của họ là người Mông Cổ (Tatar, tức Thát Đát) ở trong Nội Thành (mà người phương Tây gọi là “Tatar hay Manchu City”, hay “Ville tartare hay mandchoue”).

Thành cổ Bắc Kinh, vào thời điểm của truyện này (1911, năm cuối cùng của Thanh triều), vẫn giữ diện mạo như xưa, vẫn được phân thành bốn vòng thành, kể từ trong ra ngoài:

1.Cung Thành hay Hoàng Cung, tức Tử Cấm Thành. (Tử là màu tía, vì các bức tường cao sơn màu tía bao quanh cấm thành), do Nguyễn An, (1381-1453), một nhà kiến trúc người Việt bị nhà Minh bắt về Trung Hoa và bị thiến thành hoạn quan, vẽ kiểu và chỉ huy công trình xây cất. Nó có hình chữ nhật, rộng 72 ha, 980 cung và 8707 gian phòng. Còn gọi là Đại Nội hay Nội Cung. Ngày nay gọi là Cố cung.

2. Hoàng Thành, gọi là “hoàng” vì mái các cung điện được lợp bằng ngói lưu li màu vàng, màu chỉ dành cho nhà vua, bao bọc xung quanh Tử Cấm Thành.

3. Nội Thành, hình vuông, mỗi chiều dài khoảng 6 cây số, nằm bao quanh Hoàng thành. Vào gần cuối thế kỷ 19, nhờ vũ lực, các cường quốc phương Tây (và Nhật Bản sau đó) đã thiết lập được “Khu Công sứ quán” ở phía Đông Nam và để cho kiều dân mình đến sinh sống ở đó.

4. Ngoại Thành, nằm ở phía Nam Nội Thành, có hình chữ nhật, dài 8, ngang 3 cây số. Ở đây có Thiên Đàn và đàn Tiên Nông nằm gần nhau.

2.  Hoàng đế Quang Tự, tên là Tái Điềm, lên ngôi năm 1875 khi mới bốn tuổi, dưới sự nhiếp chính của Thái Hậu Từ Hi. Sau cuộc cải cách chính trị “Bách nhật Duy tân” (hay “Chính biến Mậu Tuất”, 1898) thất bại, ông bị Từ Hi hạ ngục cho đến khi chết (1908).

3.Ngày trước, tên thật của bất cứ nhà vua nào đều không được nói (hay viết) ra, nếu có là “phạm húy”, một tội nặng.

4 .Nguyên văn: Rue des Légations, là phố tập trung các sứ bộ ngoại giao nước ngoài, nằm trong khu thành Thát Đát, về phía đông nam Tử Cấm Thành. Nó được hưởng qui chế đặc biệt là trị ngoại pháp quyền (exterritorialité). Đây là nơi tập trung nhiều người nước ngoài. Kiến trúc và tiện nghi theo kiểu phương Tây.

5. Có lẽ tác giả muốn nói đến “yêm cát thư” (giấy chứng nhận đã bị thiến) mà các người muốn làm thái giám phải trình ra khi xin việc.

6. Tức Thái hậu Từ Hi (1835-1908), xuất thân là một phi tần của vua Hàm Phong (trị vì 1851-61), được lên làm hoàng hậu nhờ sinh con trai. Sau khi Hàm Phong qua đời, bà trở thành thái hậu vì con trai là vua Đồng Trị nối ngôi mới có sáu tuổi. Bà “thùy liêm thính chính” (rủ màn nghe việc nước), tức là ngồi sau rèm khi họp triều để nghe các quan báo cáo, bàn cãi và quyết định các việc chính trị. Và với danh nghĩa nhiếp chính này, bà một mình thống trị Trung Quốc suốt 48 năm đầy biến động và loạn lạc, qua hai đời vua Đồng Trị và Quang Tự, cho đến khi chết lúc 73 tuổi, chỉ 5 năm trước khi Thanh triều cáo chung.

7. Tiếng tôn xưng Từ Hi khi bà về già.

8. Người Trung Quốc ngày trước thường nhìn người nước ngoài như “man di mọi rợ”. Người da trắng thì bị gọi là “bạch quỉ”, “ngoại di”, “ngoại quỉ”, “rợ” (barbare)…

9. Paul Féval (1816-87), nhà văn Pháp chuyên viết truyện kiếm hiệp hay truyện lâm ly thống thiết đăng dần từng kỳ trên báo.

10  Đây là màn mở đầu cuộc Cách mạng Tân Hợi,1911 (gọi là “Song Thập”, tức ngày 10 tháng 10 năm 1911)…

11 .Vũ Xương (Wuchang), Hán Dương (Hanyang) và Hán Khẩu (Hankou) là ba thành phố nằm sát nhau, bên sông Dương Tử, ngay giữa nước Trung Hoa; cả ba sau này hợp thành đại đô thị Vũ Hán (Wuhan).

12. Herbert George Wells (1866-1946), nhà văn người Anh, được mệnh danh là một trong những “cha đẻ của khoa học viễn tưởng”. “Anticipations” (Những sự dự đoán) là tên gọi tắt của một tác phẩm của ông, được bán chạy khi ra đời năm 1901, dự đoán những tiến bô khoa học, kỹ thuật… của thế giới vào năm 2000.

13.  Tác giả nhắc đến câu nói nổi tiếng trong cuộc Đại Cách mạng Pháp 1789. Sau khi nhà ngục Bastille (Paris) bị dân chúng tràn vào phá bỏ (ngày 14-7-1789, sau này thành ngày quốc khánh Pháp), vua Louis thứ 16 đang trị vì hỏi: “Đó là một cuộc nổi loạn hay sao?” và Công tước De la Rochefoucault-Liancourt trả lời: “Tâu Bệ hạ, không đâu, đó là một cuộc cách mạng.” Ba năm rưỡi sau, ông vua này bị đưa lên đoạn đầu đài.

14.“Cuộc gặp gỡ trong ruộng dâu” là một vở tuồng nổi tiếng trong kịch mục đời nhà Nguyên, kể chuyện một người chồng trở về nhà với vợ sau hai mươi năm xa cách, nhưng muốn thử lòng chung thủy của nàng bằng cách không cho nàng biết mình là ai.

15.Nguyên văn “K’ai-paolée” (kai bao, tức khai bảo), có nghĩa mở tã lót, tã bọc (của cô gái còn trinh).

Read Full Post »