Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘Nguyễn Nhạc’

Thành Hoàng Đế là một địa điểm hai lần là kinh đô của hai tộc người, hai triều đại, trong hai thời kỳ lịch sử khác nhau. Do vậy, dù được khai quật khảo cổ nhiều lần, những tồn nghi quanh di tích này vẫn nối dài. Mới đây, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch mời Viện Khảo cổ học Việt Nam khai quật khảo cổ di tích thành Hoàng Đế lần thứ 5 với mục tiêu cụ thể: Xác định không gian “Tử thành” (thành con) để phục vụ công tác trùng tu tôn tạo.

Mô hình thành Hoàng Đế (theo tư liệu của GS. Phan Huy Lê) trưng bày ở Bảo Tàng Bình Định. Ảnh: N.T.Q

Từ 500 năm thành Đồ Bàn …

Theo thư tịch cổ, ngôi thành cổ này có rất nhiều tên gọi: Vijaya, Chà Bàn, Xà Bàn, thành Lồi, Đồ Bàn… Trong đó, tên gọi Chà Bàn được sử liệu Việt Nam ghi chép sớm nhất vào thời Lê (1403) và sử dụng nhiều nhất, một số sử liệu về sau gọi là thành Đồ Bàn. Sách Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú viết: “Sách Thiên Nam dư địa chí gọi là Chà Bàn, sau nhiều sách chép lầm là Đồ Bàn vì chữ Chà và chữ Đồ gần giống nhau”.

Năm thế kỷ vương quốc Champa định đô ở vùng Vijaya (TK XI-XV), chiến tranh nhiều lần chà xát khu vực này. Sau lần bị người Khơme tấn công vào cuối thế kỷ XII, kinh đô bị hủy hoại nặng nề. Đến năm 1832, để tránh cuộc xâm lược của quân Nguyên – Mông, người Chăm lại bỏ kinh thành chạy lên vùng thượng du. Cuộc chiến với nhà Trần và đặc biệt là nhà Lê của Đại Việt vào năm 1471 đã đưa Vijaya vào Đại Việt, thành Đồ Bàn chấm dứt vai trò lịch sử của nó với vương quốc Champa. Hiếm có kinh đô nào lại xây dựng, bị hủy hoại, rồi tu sửa, phục hồi nhiều lần như Đồ Bàn.

Về thành Đồ Bàn, thư tịch cổ cho biết: “Trong phủ có thành Đồ Bàn, là nơi vua nước Chiêm ở đó, lộng lẫy kiên cố nay dấu cũ hãy còn” (Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú); “Xã Phú Đa xưa có thành xây bằng gạch gọi là Đồ Bàn. Thành vuông mỗi bề dài một dặm, có 4 của. Trong thành có điện, có tháp. Điện đã bị đổ , tháp còn lại 2 tòa gọi là tháp con gái” (Thiên Nam tứ chi lộ đồ thư); “Thành cũ Chà Bàn ở địa phận 3 thôn: Nam Định, Bắc Thuận và Bả Canh về phía đông huyện Tuy Viễn, xưa là quốc đô của Chiêm Thành, chu vi 30 dặm, trong thành có tháp cổ, có nghê đá, voi đá đều là của người Chiêm Thành” (Đại Nam Nhất thống chí),…

Một đoạn thành ở rất gần miếu Song Trung, trong khu vực Tử Cấm thành. Ảnh: B.PHÙNG.

Đến Thành Hoàng Đế của Vương triều Thái Đức.

Khởi nghĩa Tây sơn giành thắng lợi, Nguyễn Nhạc đã chọn tòa thành cổ Đồ Bàn hơn 300 năm hoang phế để xây dựng kinh đô Vương triều Thái Đức (1778).

Sử cũ chép về Thành Hoàng Đế: “Nguyễn Nhạc nhân đất cũ của Chiêm Thành, sửa đắp thành Đồ Bàn, đào lấy đá ong thành Lũy, mở rộng cung điện” (Sách Lê Quí Dật Sử); “Tây Sơn Nguyễn Nhạc chiếm cứ thành này, nhân nền cũ xây đá ong tiến xưng là Thành Hoàng Đế” (Đại Nam Nhất Thống Chí); “Đồ Bàn có từ lâu đời, khắc phục tự nhà Trần, bị phá vỡ tự đời nhà Lê, khôi phục được từ nhà Tây Sơn, sau dần dần phá bỏ mà nay nền cũ vẫn còn…Niên hiệu Cảnh Hưng thứ 37, nhà Tây Sơn Nguyễn Nhạc năm thứ 4 bèn nhân nơi đó mà đóng đô, mở rộng cửa đông kéo dài đến 15 dặm, tường thành được đắp cao rồi xây bằng đá ong, bề cao đến 1 trượng 4 thước, bề dày 2 trượng, mở thêm 1 cửa thành ra 5 cửa, riêng phía trước có 2 cửa, bên tả là cửa Tân Khai, bên hữu là cửa Vệ môn…phía tây thành có đắp con đê đỉnh nhĩ để phòng nước lụt, phía Tây Nam có đàn Nam Giao để tế trời đất, bên trong thành xây thêm bức thành con, chính giữa dựng điện Bát Giác…phía sau là điện Chánh Tẩm (nhà chính), trước điện Bát Giác có lầu Bát Giác; hai bên dựng hai nhà thờ, bên tả thờ tổ tiên ông Nhạc, bên hữu thờ tổ tiên bà Nhạc; trước lầu Bát Giác có cung Quyển Bồng, hai bên có dãy hành lang là nơi làm việc; trước cửa cung có cửa Tam Quan cũng gọi là cửa Quyển Bồng, hay là cửa Nam Lâu mà cửa Vệ Môn đứng ở trước mặt” (Đồ Bàn Thành Ký Nguyễn Văn Hiển).

Theo Chapman, một thương gia người Anh khi đến thăm Nguyễn Nhạc vào giữa năm 1778 viết: “Tường thành phía Đông dài nửa dặm, không thấy có đại bác, lỗ châu mai, tháp canh gì cả. Cũng không thấy có lính canh ở cổng và trên tường thành”.

Đến năm 1799, Nguyễn Ánh chiếm thành Hoàng Đế đổi tên là thành Bình Định. Năm 1800, quân Tây Sơn vây thành, đến năm 1801 chịu không nổi trùng vây của quân Tây Sơn, hai tướng giữ thành của Nguyễn Ánh là Võ Tánh và Ngô Tùng Châu tự sát.

Năm 1802, quân Tây Sơn bỏ thành ra Bắc. Khi Gia Long lên ngôi, nơi đây trở thành dinh Bình Định rồi trấn Bình Định. “Năm Gia Long thứ 7 (1808) dời đến chỗ hiện nay (thôn Kim Châu và An Ngãi), năm thứ 14 đắp bằng đất, năm thứ 16 xây bằng đá ong” (Đồ Bàn Thành Ký Nguyễn Văn Hiển). Để xây thành Bình Định, nhà Nguyễn đã dỡ lấy vật liệu đá ong từ thành Hoàng Đế và xây lăng mộ Võ Tánh ngay trên địa điểm điện Bát Giác và lầu Bát Giác.

Cuộc khai quật lần trước giúp phát lộ hồ bán nguyệt trong khu vực Tử Cấm thành. Hy vọng những cuộc khai quật tới đây sẽ cung cấp thêm nhiều cứ liệu khoa học  giúp chúng ta hình dung rõ ràng hơn về tòa thành cổ này. Ảnh: B.PHÙNG.

Những tồn nghi nối tiếp

Trải qua bao cuộc biển dâu, việc bóc tách để phân biệt đâu là thành của người Chăm, đâu là của nhà Tây Sơn và đâu là của nhà Nguyễn là vấn đề không đơn giản, do đó tồn nghi nối tiếp tồn nghi.

Năm 1986, GS Phan Huy Lê cùng một số nghiên cứu sinh Đại học Tổng Hợp Hà Nội khảo sát thực địa di tích Thành Hoàng Đế và công bố Thành Hoàng Đế gồm 3 vòng thành: Thành Ngoại, thành Nội và Tử Cấm Thành. Tử Cấm Thành có cấu trúc hình chữ nhật, dài 174m, rộng 126m (khuôn viên Lăng Võ Tánh hiện nay).

TS. Lê Đình Phụng – Viện khảo cổ học Việt Nam, người chủ trì 4 đợt khai quật khảo cổ thành Hoàng Đế cũng xác định thành Hoàng Đế có 3 vòng thành: thành Ngoại, thành Nội và Tử Cấm Thành. Tuy nhiên Tử Cấm Thành có chiều dài 321m. Bởi vì dấu tích thành Đông và thành Tây Tử Cấm Thành nối dài ra phía Bắc. Mặt khác, thành Bắc Tử Cấm Thành (theo GS. Phan Huy Lê) và là tường Bắc lăng Võ Tánh hiện nay, xây sau thành Đông và thành Tây vì tường Bắc xây tiếp giáp với tường Đông và Tây bằng kỹ thuật gối đầu (không câu neo), kỹ thuật xây ghép đá ong thành Bắc khác thành Đông và thành Tây. Và TS, Lê Đình Phụng xác định thành Bắc Tử Cấm Thành là bờ Bắc thành Nội theo xác định của GS. Phan Huy Lê.

Năm 2009, Viện khoa học Công nghệ xây dựng phối hợp với Ban Quản lý di tích tỉnh đào thám sát kiểm tra các thông số kỹ thuật để lập thiết kế trùng tu, kết quả cho thấy: Bờ thành Bắc Tử Cấm Thành theo công bố của TS. Lê Đình Phụng không nối với thành Đông và còn kéo dài  về phía Đông, kích thước đá ong và tường thành Bắc đều lớn hơn kích thước đá ong và tường thành Đông và Tây hiện còn.

Vừa qua, trong quá trình phục hồi tường Đông, Tây và Nam Tử Cấm Thành (theo xác định của GS. Phan Huy Lê) đã phát hiện bờ tường Nam nối với tường Đông và tường Tây cũng xây gối đầu (không câu neo) và tường Nam cũng nối dài ta ngoài tường Đông và tường Tây hiện còn, kích thước tường Nam được phục hồi theo dấu tích chân tường hiện còn, có chiều rộng nhỏ hơn tường Đông và tường Tây.

Dấu gạch nối còn in bên ngoài góc Đông Nam bờ tường Tử Cấm Thành (thành Nam Kéo dài ra phía Đông Tử Cấm thành). Ảnh: N.T.Q

Điều đáng lưu ý ở đây là tất cả các tư liệu lịch sử để lại không có tài liệu nào nói cấu trúc thành Hoàng Đế có 3 vòng thành là: thành Ngoại, thành Nội và Tử Cấm Thành. Đây là mô hình thành Bắc Kinh của Trung Quốc. Tòa thành được sơn màu tím (tử) là nơi cấm địa, nên gọi là Tử Cấm Thành.

Trong Đồ Bàn Thành Ký của Hoàng giáp Nguyễn Văn Hiển chép về thành Hoàng Đế như sau: “…thành nội trúc tử thành….”, tạm dịch: “bên trong thành xây thành con”. Chữ “tử” ở đây nghĩa là “con”, chứ không phải tử là “màu tím”. Trong sách: Thành Hoàng Đế – kinh đô vương triều Tây Sơn, trang 154, TS. Lê Đình Phụng viết: “Về thành Hoàng Đế qua ghi chép của sử liệu (Đồ Bàn Thành Ký) cho thấy kinh đô vương triều Tây Sơn có 3 lớp vòng thành: Thành Ngoài, thành Trong (gọi là thành Nội), và thành Con (sau này gọi là Tử Cấm Thành)”.

Qua những tư liệu lịch sử viết về thành Đồ Bàn và thành Hoàng Đế nêu trên và những phát hiện mới những năm vừa qua, trong quá trình khai quật khảo cổ và phục hồi tường thành Hoàng Đế cho thấy rằng: Công bố của GS. Phan Huy Lê và TS. Lê Đình Phụng xác định về cấu trúc cũng như không gian của 3 vòng thành Thành Hoàng Đế còn nhiều điều tồn nghi. Hy vọng những cuộc khai quật tới đây sẽ cung cấp thêm nhiều cứ liệu khoa học  giúp chúng ta hình dung rõ ràng hơn về tòa thành cổ này.

(Theo baobinhdinh.com.)

NGUYỄN THANH QUANG

Read Full Post »

Nói đến nhà Tây Sơn, người ta nghĩ ngay rằng thủ phủ của cuộc khởi nghĩa chính là vùng đất xã Kiên Mỹ, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định. Kỳ thực những ngày đầu ba anh em nhà Tây Sơn đã chọn vùng đất An Khê tỉnh Gia Lai để tập hợp nhân lực, đồn trữ binh lương và dựng cờ khởi nghĩa. Ngày đó vùng đất này vẫn thuộc huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định, tuy nhiên ngăn cách với đồng bằng bởi dãy núi trùng điệp nên được gọi là Tây Sơn thượng đạo…

Tư liệu về Tây Sơn thượng đạo liên quan đến cuộc khởi nghĩa của 3 anh em nhà Tây Sơn gần như không được đề cập nhiều đến trong sách sử. Sách “Đại Nam chính biên liệt truyện” chỉ ghi một dòng ngắn ngủi: “Năm 1771, Nhạc thiết lập đồn trại ở đất Tây Sơn thượng đạo”. Lý giải cho việc ít ỏi thông tin này, theo những lời truyền miệng của người dân ở đây, sau khi lên ngôi vua, Nguyễn Ánh đã trả thù nhà Tây Sơn một cách hèn hạ và tàn khốc. Do đó, người dân địa phương muốn thờ cũng phải giấu giếm, và tuyệt nhiên không bao giờ đề cập đến trong các sách vở. Vì vậy những gì liên quan đến ba anh em nhà Tây Sơn hiện nay còn lại chỉ qua lời kể được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác.
Qua lời kể dân gian, những câu chuyện dần dần mang màu sắc thần thoại. Gắn với những di tích hiện có trên vùng đất này, người ta phần nào hình dung được một thời dựng nghiệp của nhà Tây Sơn. Chuyện Nguyễn Nhạc có vợ là người dân tộc Ba Na được người dân nơi đây khẳng định là sự thực.
Vị trí hiểm địa để lập căn cứ
Theo sử sách, từ thời Trịnh – Nguyễn phân tranh, Tây Sơn thuộc phủ Quy Nhơn, bao gồm từ đồng bằng phía bắc tỉnh Bình Định lên đến vùng cao nguyên phía tây dãy Trường Sơn hùng vĩ. Phía đồng bằng được gọi là Tây Sơn hạ đạo, vùng đất phía tây bên kia dãy đèo Mang hiểm trở tức đèo An Khê được gọi là Tây Sơn thượng đạo, nay là các huyện An Khê, K’Bang, Kon Ch’ro của tỉnh Gia Lai. Ngày ấy, theo lời khuyên của sư phụ dạy võ Trương Văn Hiến, ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ từ vùng đất Kiên Mỹ thuộc hạ đạo đã lên đây lập căn cứ địa. An Khê có đất đai phì nhiêu, có nhiều lâm thổ sản quý, có mỏ sắt, mỏ diêm tiêu, nhiều voi ngựa… Cư dân hầu hết là người Ba Na và một số nông dân miền xuôi lên khai hoang, buôn bán.
Do những điều kiện địa lý, kinh tế, chính trị trên, Tây Sơn thượng đạo nhanh chóng trở thành căn cứ địa của cuộc khởi nghĩa của ba anh em nhà họ Nguyễn. Tại trung tâm lòng chảo tức thị trấn An Khê ngày nay có một con đường mang dấu tích được đắp cao, người dân gọi là “lũy ông Nhạc”, và đây chính là trung tâm, chỉ huy sở của nghĩa quân.
Căn cứ đồn lũy của nghĩa quân Tây Sơn nằm trong một vùng đất rộng khá bằng phẳng thành một lòng chảo bởi được 4 mặt che chắn: đó là quần sơn Ngọc Linh ở phía bắc tức Kon Tum, cao trên 3.000m; hai dãy núi chạy song song theo hướng Bắc Nam là đèo Mang (đèo An Khê) và đèo Mang Yang (Cổng Trời); phía đông và đông nam có dãy Trụ Lĩnh trùng điệp bao bọc với những dãy núi cao bình quân trên 400m so với mặt nước biển; kế bên đó, con sông Ba và suối Cái làm thành hai chiến hào thiên nhiên bao bọc lấy mặt tây và nam. Toàn bộ khu vực này một lần nữa lại được bao bọc bởi một vành đai núi non án ngữ ở phía đông gồm dãy đèo Mang nhiều ngọn núi cao dưới 1.000m, sườn đông dốc đứng cùng với 3 ngọn núi lớn là hòn Bình, hòn Nhược và hòn Tào tạo thành bức tường thành thiên nhiên vĩ đại.
Trong số 3 ngọn núi nhìn về phía đông, thì núi ông Bình (chỉ Nguyễn Huệ, cách gọi khác đi để che mắt nhà Nguyễn) cao nhất, đến 814m. Đứng ở đây, nghĩa quân có thể quan sát đến tận vùng hạ đạo, bờ biển Quy Nhơn. Hòn Bình nối với hòn Nhược (Nguyễn Nhạc) bằng một lũy đắp kiên cố tạo thành thế liên hoàn án ngữ phía đông và nam. Trong khi đó dưới chân hòn Tào (Nguyễn Lữ) là khu vực gò Kho, xóm Ké, nơi nghĩa quân đồn trữ binh lương.
Mặc dù được các bức tường thành thiên nhiên là núi non bao bọc bốn bên, nhưng từ Tây Sơn thượng đạo theo nhiều con đường xuyên sơn khác có thể đi ra các tỉnh phía bắc bằng con đường sang Kon Tum xuống Quảng Nam ra Huế; còn phía nam, sông Ba và các con đường mòn dọc theo các sông, suối tạo thành nhiều đường giao thông thủy bộ quan trọng, nối liền Tây Sơn thượng đạo với vựa lúa Phú Yên và các tỉnh Nam Trung Bộ. Chính vị trí và địa hình ấy tạo cho An Khê có một địa bàn chiến lược lợi hại. Có thể coi vùng này như một bậc thang quan trọng giữa đồng bằng và Tây Nguyên. Từ đây nghĩa quân có thể tiến công xuống đồng bằng và rút về phòng thủ thuận lợi.
 
Dâng hương tưởng niệm Vua Quang Trung tại bảo tàng Tây Sơn thượng đạo.
Người vợ Ba Na của Nguyễn Nhạc 
Từ thị trấn An Khê đi về phía nam thị trấn chừng 8 cây số, người ta thấy một hòn đá hình chiếc ngai nằm bên bờ con suối Chơ Ngao tại làng Đê Chơ Gang thuộc xã Phú An. Người dân Ba Na đến giờ vẫn kính cẩn gọi đó là “to mo bok Nhạc” tức “hòn đá ông Nhạc”. Lời kể của cụ Huỳnh Ngọc Chương năm nay trên 90 tuổi, có 6 đời lập nghiệp tại An Khê, kể rằng ngày ấy có một người đàn ông người Kinh thường đến vùng này mua trầu, người ta gọi ông là ông Hai Trầu. Ông Hai Trầu vẫn thường ngồi nghỉ chân tại hòn đá này, và sau này là nơi gặp mặt hội họp tướng lĩnh. Từ đời này qua đời khác, hòn đá này được coi là vật thiêng của làng. Ông Hai Trầu chính là Nguyễn Nhạc, người khởi nghiệp của cuộc khởi nghĩa Tây Sơn.
Tuy nhiên, nếu không có một người con gái Ba Na thông minh và xinh đẹp giúp sức thì Nguyễn Nhạc cũng khó lòng chiếm được cảm tình của người dân Ba Na nơi đây. Nàng tên là Ja Dok (đọc là Gia – Tót), con của vị tù trưởng Ba Na hùng mạnh và giàu có. Những ngày Nguyễn Nhạc lên đây buôn bán trầu, bà có cảm nhận người này không chỉ đi buôn mà đang ấp ủ một việc lớn. Cảm tấm lòng người anh hùng, bà Ja Dok nhận làm vợ của ông. Ngày nay dân làng Si Tơ, xã Tơ Tung, huyện K’Bang không những tự hào là quê hương của anh hùng Núp, mà còn tự hào là nơi đã cung cấp cho cuộc khởi nghĩa Tây Sơn một nữ nhân anh kiệt. Dưới sự giúp sức của bà, Nguyễn Nhạc đã lấy được lòng cha bà là vị tù trưởng. Bà đã vận động cha và dân trong vùng ủng hộ cho nghĩa quân Tây Sơn 300 thớt voi, 400 ngựa và hàng trăm gùi lương thực.
Kể từ đó công việc của bà gắn với hoạt động của nghĩa quân. Hiện nay dưới chân núi Ca Noong thuộc thôn Tú Thủy, xã Nghĩa An, huyện K’Bang hiện còn cánh đồng chừng 20ha, gọi là cánh đồng Cô Hầu, và một vườn khoảng 500 cây mít, vẫn còn những cây mít cổ thụ, đến mùa vẫn ra sai quả. Đây là nơi bà Ja Dok khai phá để sản xuất nuôi quân. Ngày đó từ thị trấn An Khê đi về phía nam là con đường độc đạo bé xíu, nhưng bà và Nguyễn Nhạc cũng đã đi cả trăm dặm đường vào tận làng Đê H’lang, xã Yang Nam, huyện Kông Chro, dưới chân núi Ja Prum để thuyết phục đồng bào Ba Na nơi đây đi theo cuộc khởi nghĩa.
Tại đây hiện giờ còn dấu tích của nền nhà, nhiều mảnh ngói vảy cá, một hồ nước xây bằng đá tổ ong. Mỗi khi đi qua đây, người dân tộc Ba Na vẫn bày tỏ niềm kính cẩn. Họ nói rằng đó là nền nhà của Nguyễn Nhạc. Cách nền nhà 500m, trong một hốc đá kín đáo bên bờ suối có nhiều đồng tiền xu bằng đồng, gọi là “kho tiền Nguyễn Nhạc”. Trong đợt khảo sát năm 1990, ngành văn hóa thông tin tỉnh Gia Lai sưu tầm được 15 đồng tiền xu gửi tặng Bảo tàng Quang Trung ở Bình Định.
Người dân vùng này kính trọng gọi bà Ja Dok bằng tên ngọn Ja Prum, ngọn núi cao nhất trong vùng. Sau khi bà mất đi, người Ba Na đã an táng bà trên ngọn núi cao nhất phía đông và lấy tên bà đặt cho ngọn núi, núi Ja Dok. Ngày nay dân làng Si Tơ và cả anh hùng Núp ngày còn sống, vẫn cho rằng trong làng vẫn còn dòng giống của nữ chúa.
Truyền thuyết về một thời dựng nghiệp
Tại thôn An Thượng, xã Song An, huyện An Khê, ngay trên trục quốc lộ 19 có một ngôi miếu nhỏ, gọi là miếu Xà. Chuyện tương truyền rằng, năm 1773, khi ba anh em nhà Tây Sơn xuất quân tiến xuống đồng bằng. Khi đến khúc ngoẹo Cây Khế tại đèo Mang (là khúc cua tay áo tại đèo An Khê hiện nay), bất ngờ có một con rắn đen như gỗ mun, to như cột đình ra nằm chặn giữa đường. Trong hàng ngũ tướng lĩnh và nghĩa quân có người cho rằng đây là điềm gở, đề nghị thâu quân. Nhưng Nguyễn Huệ đã tiến lên, rút kiếm chém đứt đôi con rắn, lấy máu tế cờ và hòa rượu cho binh sĩ uống. Sau đó Nguyễn Huệ cho người trèo lên cây ké phất cờ và cây cầy gần đó nổi trống làm hiệu tiến binh. Từ lần xuất quân đó, Nguyễn Nhạc đã lấy được thành Quy Nhơn.
Câu chuyện truyền thuyết về Nguyễn Huệ như người anh hùng đất Bái trảm xà khởi nghĩa, theo lời kể của cụ Đỗ Tùng ở tại thôn An Thượng, xã Song An (đã mất). Sau khi thắng trận, Nguyễn Nhạc cho lập miếu thờ rắn thần tại ngoẹo Cây Khế, nhưng do thời gian và biến loạn nên người dân đưa miếu Xà về thôn An Thượng. Riêng cây cầy và cây ké, đã qua hơn 200 năm nên không còn dấu tích.
Để có được đội binh hùng tướng mạnh, ba anh em nhà Tây Sơn thời kỳ đầu đã có những cách thuyết phục người dân Ba Na khá ngoạn mục. Chuyện rằng lúc mới lên đây, người Ba Na thấy ba anh em Nguyễn Huệ còn trẻ tuổi nên không phục. Trước mặt dân làng, Nguyễn Huệ thách ai nhấc nổi tảng đá trên trăm cân thì làm vua. Không ai nhấc nổi, chỉ có Nguyễn Huệ nhấc lên nhẹ nhàng. Nguyễn Huệ đã cho lấy mật, mỡ viết vào lá cây rừng chữ “Nhạc làm vua, Huệ làm tướng, Lữ làm quan”. Loài kiến ăn theo đó thủng lá thành chữ. Sau đó Nguyễn Huệ sai người cứ nửa đêm lên ngọn Mò O đốt lửa. Người Ba Na lên xem, tin đó là lời Giàng phán, từ đó nghe theo.
Một kỳ công khác là Nguyễn Huệ đã chinh phục đàn ngựa rừng và từ đó thu phục vị tù trưởng Xê Đăng. Hồi đó trên núi Hình Hốt (còn gọi là núi Hiển Hách) có đàn ngựa rừng rất hung hãn, thường về phá rẫy nương của đồng bào. Nguyễn Huệ cho lựa trong bầy ngựa nhà một số ngựa cái thật sung sức, thả ra. Cứ đến chiều, ông lại ra gọi bầy ngựa cái chạy về và cho ăn cỏ. Bầy ngựa rừng lâu ngày thành quen, nhập cuộc với bầy ngựa nhà và sau này, mỗi lần ông gọi cũng theo ngựa nhà chạy đến. Vị tù trưởng Xê Đăng thấy Nguyễn Huệ gọi được bầy ngựa rừng, nghĩ rằng đây là người của Giàng, từ đó quy phục và ủng hộ lương thảo, binh lính cho nghĩa quân.
Còn rất nhiều câu chuyện và dấu tích của nhà Tây Sơn tại vùng đất Tây sơn thượng đạo này. Ở phía nam huyện An Khê, vùng Bà Giang thuộc xã Bắc Giang, có một hồ cá xây bằng đá ong mang tên “hồ ông Nhạc”. Gần đấy có một đập nước lớn gọi là “sa khổng lồ”, nhân dân địa phương quen nói “sa khổng lồ, hồ ông Nhạc”. Tương truyền rằng đó là hồ nước ăn của nghĩa quân. Kế đó có Hóc Yến và núi Lãnh Lương, nơi Nguyễn Nhạc mở tiệc khao quân và phân phát lương thực.
Ngoài việc thu phục người Ba Na, tại đây ba anh em nhà Tây Sơn cũng đã thu phục được những tướng tài cho cuộc khởi nghĩa. Tương truyền rằng khi nghĩa quân còn ở đây, Trần Quang Diệu đã từ Hoài Ân, Bình Định tìm đến. Giữa đường, Trần Quang Diệu bị cọp tấn công và ông đã đánh lại. Quần nhau nửa ngày trời, Trần Quang Diệu xuống sức và may sao lúc đó Bùi Thị Xuân cũng đang trên đường tìm Nguyễn Nhạc đầu quân, nhìn thấy và  giương cung bắn chết cọp.
Cũng trên vùng đất thượng đạo này, cơ duyên đã đưa Vũ Văn Dũng đến với nghĩa quân. Một hôm ba anh em Nguyễn Huệ đi trên một con đường hiểm yếu, nghe một tiếng quát vang cả núi rừng, chim bay tan tác. Một tướng cướp vai hùm lưng gấu nhảy xổ ra và tấn công. Nguyễn Nhạc nghênh chiến. Hai bên quần nhau mấy trăm hiệp, không phân thắng bại. Nguyễn Huệ đứng ngoài xem và thấy đường võ của tên cướp rất giống những ngón đòn thầy dạy, bèn kêu dừng trận đánh lại và hỏi. Hóa ra tướng cướp tên là Vũ Văn Dũng, cùng học võ ở thầy Hiến. Nhận ra đồng môn, Vũ Văn Dũng về đứng dưới cờ Tây Sơn và sau này lập nhiều chiến công hiển hách.
Đặng Vỹ

Read Full Post »

Tương truyền, trước khi khởi nghĩa, ba anh em Nhà Tây Sơn được trời ban ấn, kiếm lệnh tại núi Giải (xã Bình Tường, huyện Tây Sơn); kể từ đó núi Giải có thêm tên núi Ấn. Truyền thuyết xưa đang được hiện thực hóa bằng công trình văn hóa tâm linh tưởng niệm thời khắc Nhà Tây Sơn khởi nghiệp.

Thực hóa tích xưa

Sách “Nhà Tây Sơn” của Quách Tấn – Quách Giao viết, một lần Nguyễn Nhạc cùng bộ hạ ở An Khê về, đến Hoành Sơn thì ngựa lồng lên, rồi thẳng cổ chạy nước đại. Nhưng không chạy tẽ ra hướng bắc để về Kiên Mỹ, mà lại chạy về hướng đông nam. Ðến chân núi phía trong Gò Sặt, cương ngựa bị đứt, Nguyễn Nhạc té nhào, trặc chân không đứng dậy được. Khi đứng dậy, Nguyễn Nhạc chợt thấy chuôi kiếm ló ra nơi vách đá trên sườn núi. Sai người lên xem thì thấy một thanh kiếm lưỡi sáng như nước. Ai nấy đều mừng cho là của trời ban. Về nhà Nguyễn Nhạc nói cùng hai em: Ngọc Hoàng đã sắc phong ta làm Quốc Vương, lẽ tất nhiên là phải ban ấn kiếm. Nay kiếm đã có rồi, ta phải đi tìm ấn. Ðoạn, tổ chức lễ cầu đảo tại chân núi Hoành Sơn ba ngày đêm. Ðêm thứ ba, lúc nửa đêm, chiêng trống hành lễ vừa dứt, thì một vòi lửa như một làn pháo thăng thiên, bay từ hòn Một xẹt đến hòn Giải thì rơi xuống. Trèo lên xem thì thấy một quả ấn vàng nằm trong kẽ đá, quả ấn vuông vức, mỗi cạnh dài độ ba lóng tay, nơi mặt khắc bốn chữ triện “sơn hà xã tắc”.

 

 

                             Phối cảnh Đàn tế trời đất. Ảnh: văn lưu

Truyền thuyết được trao ấn kiếm “sơn hà xã tắc” là nguồn gốc để công trình Khu du lịch tâm linh Ấn Sơn, trong đó hạng mục ý nghĩa nhất – Đàn tế trời đất được khởi công xây dựng vào ngày 26.11. Tọa lạc trên khu đất rộng 46 ha, quần thể kiến trúc được bố trí phù hợp và cân xứng theo trục thần đạo hướng Nam Bắc. Sau công trình Phật pháp Linh Phong, có thể xem Khu du lịch tâm linh Ấn Sơn là công trình văn hóa tâm linh có quy mô lớn trong tỉnh.

Đàn tế trời đất nằm trên đỉnh núi Ấn gồm 2 cấp nền: cấp nền hình vuông (rộng 54mx54m) tượng trưng cho Đất, cấp nền hình tròn đường kính 27m tượng trưng cho Trời. Đàn tế có 4 lối vào theo 4 hướng, hướng Nam là hướng chính với nghi môn chính là một bình phong được làm bằng đá ý nghĩa trấn phong thủy, chính giữa Đàn tế đặt hương án.

Bên phải Đàn tế trời đất là Đền Ấn gồm 3 hạng mục: Tiền tế có kiến trúc mặt bằng chữ Nhất, thờ tướng lĩnh và binh sĩ thời Tây Sơn; Phương Đình – tượng trưng cho nơi giao hòa giữa trời và đất, đây là nơi sẽ đặt bản sao của Ấn lệnh Nhà Tây Sơn; Hậu cung – nơi đặt bàn thờ cùng bài vị ba anh em Tây Sơn. Ngoài ra còn có các công trình phụ trợ như: Khu quản lý di tích, hồ bán nguyệt, các nhà lục giác nghỉ chân, đường dạo bộ, nhà xe… Tổng kinh phí xây dựng công trình dự toán 43 tỉ đồng, do Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam tài trợ; Công ty CP Khoáng sản và Năng lượng An Phú làm chủ đầu tư thực hiện các hạng mục công trình.

Thêm một công trình tưởng niệm Nhà Tây Sơn

Chủ tịch UBND tỉnh Lê Hữu Lộc: “Công trình Khu du lịch tâm linh Ấn Sơn là tấm lòng của hậu nhân đối với tiền nhân lưu danh muôn thuở. Có thêm công trình này, Bình Định có thêm một địa chỉ để nhân dân cả nước, du khách gần xa đến thăm viếng, bày tỏ, chiêm bái tinh thần phong trào Tây Sơn trường tồn…”.

Người dân thôn Hòa Sơn, xã Bình Tường vốn rất quen thuộc với sự tích trời đất ban ấn kiếm cho thủ lĩnh Tây Sơn tại ngọn núi Giải quê nhà nên đã không quản ngại mưa to, vượt núi đến chứng kiến lễ động thổ Khu du lịch tâm linh Ấn Sơn. Bà Nguyễn Thị Sa, 65 tuổi, cho biết: “Từ nhỏ tôi đã nghe ông bà, cha mẹ kể chuyện về sự tích ban ấn, kiếm vàng cho anh em Nhà Tây Sơn trước khi khởi binh thống nhất đất nước, chống giặc ngoại xâm. Chúng tôi rất vui mừng khi biết tin có một công trình được xây dựng để khắc ghi sự tích đó. Người dân chúng tôi cũng mong ngày công trình hoàn thành, được lên đó thắp nén hương tưởng nhớ những người anh hùng Tây Sơn”.

Núi Ấn, gắn với giai thoại thu phục nhân tâm của Nhà Tây Sơn, đã trở thành địa danh linh thiêng với người dân Tây Sơn nói riêng và Bình Định nói chung. Ước nguyện về một công trình văn hóa tâm linh tưởng nhớ thời khắc “thiên thời” cũng như công lao to lớn của Nhà Tây Sơn đã thành hiện thực. Cùng với những nghiên cứu, công trình tưởng niệm thuộc về chính sử, quần thể công trình du lịch tâm linh Ấn Sơn là một biểu hiện của sự tiếp tục bổ sung, hoàn thiện di tích về thời Tây Sơn trên đất Bình Định.

Nguồn baobinhdinh

  • SAO LY

Read Full Post »