Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘Nguyễn Hữu Duyên’

Chuyện của hắn

Nguyễn Hữu Duyên

Tranh Picasso

Tranh Picasso

Quê hắn cách Sài Gòn một đêm nằm ngủ trên xe là sáng đến nơi. Nhưng gần mười năm rồi, hắn không về nhà trong dịp Tết. Ai cũng bảo làm suốt năm Tết cũng phải về quê thắp ông bà nén nhang chứ. Mà đâu phải chỉ mình hắn tha hương. Hắn nói hắn nghèo không có tiền về xe. Hắn nói thiệt nhưng chẳng ai tin hắn. (more…)

Read Full Post »

Nguyễn Hữu Duyên

.

131618056753327515_574_0

Tân trở lại Đà Lạt vào một ngày cuối thu để thăm đứa em gái út có chồng ở thành phố này. Và, cũng để tìm Thủy, dù rất mong manh, bởi cũng đã gần bốn mươi năm đi qua. (more…)

Read Full Post »

Chữ Tình

 Nguyễn Hữu Duyên

  1302141122_1297535050_352124484f6db9bcae7-1

Năm đang ngồi đọc sách thì có tiếng gõ cửa nhẹ, thong thả.

– Cửa không cài then, xin mời vào.

– Thưa thầy, em là con của bà chủ nhà này. Em…– Một cô gái bước vào. (more…)

Read Full Post »

Nguyễn Hữu Duyên

Họa sĩ: Nguyễn Tấn Hiền

Tôi mở tin nhắn của Hưng, một người bạn trẻ cùng làng ra đọc.
– Em đã gọt lại truyện và chuyển lên ban biên tập, nhưng bị gác lại rồi!
Thực ra, tôi cũng đã dự đoán được điều ấy, bởi nội dung của cái truyện tôi viết có những chi tiết đề cập liên quan giữa tôi và Du, tổng biên tập  báo, về cái ngày mà chúng tôi cùng dạy học ở một trường cấp 2 gần thị xã. Anh gác lại là phải. Tôi không buồn và cũng không giận anh, vì nó hợp với lẽ tự nhiên thôi. Chỉ có điều người bạn trẻ cùng làng với tôi, đang làm trưởng ban chính trị- văn xã của báo, không nắm được nguồn gốc của vấn đề nên bị sốc. Và, cậu ta gọi điện giải thích cho tôi với giọng  buồn buồn. (more…)

Read Full Post »

Như một dòng sông

Nguyễn Hữu Duyên

Ảnh Hoàng Tuấn

Tâm trở lại Sài Gòn vào một ngày cuối năm để dự đám cưới con của một người bạn. Đêm. Một chút chớm lạnh. Tâm mặc thêm áo khoác ngoài, bước vào một quán cà phê ở đầu đường Vạn Kiếp, con đường bây giờ rộng và được tráng nhựa, đẹp hơn nhiều. Nhà cửa cũng rất bề thế, hầu như không còn nhà cấp bốn đơn sơ. Điện đường sáng rực. Xe cộ và người qua lại rộn ràng, tấp nập. Thật là khác xa với ngày Tâm đến đây của 35 năm về trước…

*** (more…)

Read Full Post »

Truyện ngắn Nguyễn Hữu Duyên

Khi tôi dừng xe, anh chủ nhà ra ngõ chào tôi và nhìn tôi có vẻ thảng thốt trong một thoáng chốc rồi quay lưng đi về phía đường luồn sát hông nhà, bảo tôi đi theo ra chuồng heo. Như đã thống nhất thời gian, giá cả giữa vợ anh và vợ tôi lúc sáng, tôi xách rọ bước vào chuồng. Một tay tôi đưa rọ vào chận trước đầu, một tay cầm đuôi đẩy nhẹ thì con heo đã vào rọ gọn gàng. Anh chủ nhà phụ tôi khiêng con heo ra trước sân, nơi có cái cân treo và một khúc tre dài, thẳng để sẵn. Khi cân, dù cái đòn cân còn đang chổng lên, anh không kéo trái cân ra nữa, mà anh lại nói với vợ anh đang đứng một bên: 55 ký. Thực sự là tôi bị bất ngờ, bởi cái móc trái cân nằm ở vạch 58 ký. Đây là lần đầu tiên tôi gặp phải trong nghề bắt heo. Tôi không tin vào tai của mình. Tôi nhìn vào mặt anh như để tìm câu trả lời. Như để tránh ánh mắt thắc mắc của tôi, bởi anh tin chắc như vậy, anh thản nhiên bước vào nhà, còn chuyện tiền nong thì vợ tôi tính với vợ anh.

Tối về, tôi mới nhớ ra anh là học viên lớp 7 bổ túc văn hóa ban đêm ở trung tâm thị xã, còn tôi là giáo viên môn ngữ văn của lớp ấy gần 15 năm về trước. Có lần, trong một tiết học ngữ pháp, tôi gọi anh lên bảng, bảo anh viết một câu có thành phần trạng ngữ chỉ nguyên nhân. Anh lên bảng, sau một thoáng suy nghĩ, anh nhìn tôi rồi quay sang, viết: “Vì muốn có thêm tiền, nên thầy đi dạy thêm bổ túc văn hóa ban đêm”. Và, anh lên mô hình câu chính xác từ thành phần trạng ngữ đến cụm chủ – vị. Tôi thật sự bất ngờ vì câu ví dụ này của anh. Lúc đó tôi lúng túng và chỉ biết mời anh về chỗ với nụ cười gượng gạo. Anh đã xúc phạm tôi. Tôi không còn nhớ là mình dạy cái lớp bổ túc văn hóa ban đêm này được bao lâu, nhưng qua bữa đó, tôi báo cáo với người phụ trách là tôi không thể tiếp tục được nữa với lý do vì nhà tôi cách chỗ dạy gần 10 cây số mà đường đi lại về đêm trong thời điểm đang mùa mưa nên khá là vất vả. Tôi không muốn phân bua cùng anh học viên đó về nội dung của câu ví dụ từ cách nhìn của anh. Bởi làm sao anh hiểu tôi thích cái nghề dạy học như thế nào? Anh đã chạm vào nỗi đau của tôi. Hồi còn học vỡ lòng, tôi học giỏi nhất lớp, nên thầy giáo tin tưởng giao cho tôi sửa, chấm bài cho cả lớp, khi thầy mắc tiếp khách hay bận một công việc nào đấy. Mới chỉ năm, sáu tuổi mà đã làm công việc của một ông thầy, thật thích. Lũ bạn cùng lớp biết thế nên thường hay đem trái cây của vườn nhà “hối lộ” tôi. Đứa nào không có thì tôi ngang ngay sổ thẳng. Đứa nào đưa cái khế thì tôi sửa lại một phần chỗ sai và cho 7 điểm, còn ổi thì 8 điiểm, mà xoài tượng thật ngon thì 9 điểm, 10 điểm…Đặc biệt là không đứa nào dám hó hé với thầy, bởi sợ tôi thù vặt thì ngồi mãi cái lớp vỡ lòng. Cái cảm giác vui sướng được làm thầy của tôi bắt đầu từ đó. Nghe những người lớn tuổi trong làng thường nói với nhau, “mồng một tết cha, mồng ba tết thầy”, tôi lại càng khoái trong bụng, cứ nghĩ mai này mình sẽ làm thầy thì oai biết chừng nào. Lên lớp ba, tuy vẫn học ở trường làng, nhưng tôi may mắn gặp một người thầy có kiến thức rất rộng, dù chỉ là một giáo viên tiểu học. Hình ảnh của thầy thật đạo mạo và sang trọng, chân đi giày xăng – đan, áo sơ mi trắng bỏ trong quần tây được ủi thẳng tắp, túi áo có hai cây bút, một cây nguyên tử màu đỏ dùng để sửa bài, chấm điểm, một cây pilot màu xanh dùng để soạn bài, ra bài tập. Và, tôi mê cái nghề dạy học bắt đầu từ đó. Nhưng người ta thường nói, mơ ước là một chuyện, thực tế lại là một chuyện khác. Sau ngày giải phóng, tôi được điều về công tác tại phòng thống kê của thị xã, ngày 8 tiếng bù đầu với những báo cáo, con số, dự báo, và ước mơ làm thầy càng ngày càng lùi xa. Năm này tháng nọ trôi qua. Đến những năm đầu của thập niên 80, do biết tôi thích nghề dạy học, anh bạn rủ tôi đăng ký dạy bổ túc ban đêm, vừa thỏa mãn sự ham thích, vừa có tiền phụ thêm vào cuộc sống sinh hoạt của gia đình…
Đúng là trái đất tròn! Ngày ấy tôi gặp anh trên cương vị thầy trò, tôi kiểm tra bài, cho anh điểm 9; ngày nay, sau gần 15 năm, anh là người bán heo, anh tặng tôi, người mua heo 3 ký heo hơi. Nếu không có cái ngày tôi rời khỏi cơ quan nhà nước vì nằm trong danh sách giảm biên thì có lẽ tôi và anh không gặp nhau trong cảnh kẻ bán người mua chẳng dễ chịu tí nào này. Dù sao tôi cũng cảm ơn anh vì đã nghĩ một chút nghĩa ngày xưa tôi từng  đứng trên bục giảng truyền đạt những kiến thức cơ bản góp một phần nhỏ để anh có thể viết được một câu tròn trịa, ít lỗi chính tả trong báo cáo công tác của cơ quan gửi lên cấp trên. Ngày ấy hay bây giờ cũng thế, tôi không hề trách anh, bởi thực tế có rất nhiều thầy cô giáo phải làm thêm nhiều việc để sống vì đồng lương quá ít ỏi, không thể kham nổi, đến nỗi họ phải bán thuốc lá cho học sinh khi đến nhà mình học thêm, và bí quá, họ nhảy tàu Bắc – Nam để mua bán hàng lậu, khi được nhiều, khi trắng tay. Anh bạn tôi dạy phải môn sử địa, không buôn lậu, không bán thuốc lá cho học sinh, cũng chẳng ai đến học thêm để mà dạy kèm, nên chuyển sang bốc vác đường bột ở chợ để chia sẻ với vợ con, lo toan cuộc sống gia đình trong thời buổi khó khăn. Riêng tôi thì nghề dạy học là nghề tôi yêu thích nhất từ hồi còn bé nên tôi đến với cái lớp bổ túc văn hóa ban đêm ấy như là một sự hiếu kỳ pha lẫn một chút thích thú muốn khám phá cái công việc mà từ nhỏ tôi yêu thích, chứ  không phải vì muốn kiếm thêm tiền, bởi tôi đang là cộng tác viên thường xuyên, có uy tín với đài tỉnh, nhuận bút hàng tháng tôi nhận còn khá hơn nhiều. Nếu ngày ấy anh hiểu được tôi, chắc anh không đưa ra câu ví dụ làm tổn thương tôi, và vô tình anh đã đẩy tôi ra khỏi cái lớp bổ túc văn hóa ban đêm ấy…
Sáng hôm sau, sau khi chở thịt ra chợ, tôi xuống nhà anh vừa là thăm vừa là để cùng nhau chia sẻ, giải bày chuyện của hôm qua và chuyện của gần 15 năm về trước. Vừa thấy tôi, anh ra mở cửa:
   
–         Như vậy là thầy nhớ tôi rồi, phải không? – Anh vừa cười vừa bắt tay tôi, dắt vào nhà.
–         Chuyện đã qua lâu rồi. Bây giờ hai đứa gọi anh qua anh lại là được.– Tôi nhìn anh nói một cách chân tình.
Anh lại tủ lạnh lấy một chùm nem Chợ Huyện và vào phòng trong lấy một chai rượu đặt lên bàn sau khi đã lau sạch bụi bám một cách kỹ càng.
 – Rượu Bàu Đá, lão tửu đó! Thầy…ờ mà… anh là khách đặc biệt nên hôm nay tôi mới đem ra, tôi chôn dưới đất cũng cả năm rồi.
Tôi chỉ nhìn anh cười, chưa kịp nói gì thì anh đã  tiếp:
–         Tôi nhớ một hôm anh giảng về Nguyễn Khuyến, anh say sưa phân tích hai câu: Rượu ngon không có bạn hiền / Không mua không phải không tiền không mua.- Anh vừa nói vừa rót rượu vào hai ly nhỏ, sóng sánh, trong vắt, vun hạt cườm, thơm lựng.
–         Bữa nay anh phải uống say với tôi một bữa nhé! Không mấy thuở đâu!
–          Chắc cũng trên năm mươi độ, phải không anh?
–         Chắc vậy. Uống ly rượu này tôi xin tạ tội cùng anh vì ngày ấy tôi đã làm anh bị tổn thương.
–         Thôi bỏ đi, chuyện đã qua lâu rồi. Hơn nữa do anh bức xúc thực trạng giáo dục lúc đó mà!
Rồi tôi kể cho anh nghe, hồi tôi còn bé, ông ngoại tôi cứ nửa tháng hay 20 ngày là lên thăm nhà tôi. Ông rất thương tôi, có lẽ do tôi là cháu ngoại trai duy nhất, bởi các dì của tôi lúc đó đều sinh con gái. Ông hay giúp tôi làm thủ công như: cày, bừa, cuốc, đũa, rổ…Tối tôi ngủ với ông và ông hay đọc cho tôi nghe các câu ca dao, tục ngữ, rồi giải thích cặn kẽ cho tới khi nào tôi hiểu, hoặc là buồn ngủ thì ông mới thôi. Có lần ông hỏi tôi, sau này lớn lên cháu thích làm nghề gì, tôi nói ngay là tôi rất muốn làm thầy giáo. Nghe tôi nói vậy, ông rất vui và bảo rằng, đó là những kỹ sư tâm hồn, mà để thực hiện được chức năng đó, không phải ai cũng làm được. Phải học thật giỏi và phải đọc sách thật nhiều, tất nhiên là phải có năng khiếu và đam mê nữa. Nghe lời ông, tôi cố gắng học và giảm đi một ít thời gian đánh trổng, thả diều cùng lũ bạn để có thời gian đọc sách nhiều hơn. Cũng may là thời ấy trong xóm có một nhà gần như có đầy đủ các loại sách truyện Tàu, thấy tôi mê đọc sách, nên cho mượn, chỉ có điều là phải giữ cẩn thận. Biết tôi vậy nên mỗi lần có công việc đi Quy Nhơn hay đi Sài Gòn, ba tôi đều mua cho tôi rất nhiều sách. Sau này lớn lên, tôi tiếp tục xây dựng một tủ sách khá đầy đủ, nhất là hai lĩnh vực văn học và lịch sử. Đặc biệt là tôi chuẩn bị khá đầy đủ về những bài hát thiếu nhi và phương pháp, nội dung sinh hoạt tập thể. Ngoài ra, tôi còn tập thắt châu chấu bằng lá dừa, làm lồng đèn ông sao để sau này hướng dẫn học trò tham gia sinh hoạt cộng đồng…Nhưng oái ăm thay, nghề thống kê lại chọn tôi. Bây giờ tôi không lý giải được vì sao nên cứ nói là do số phận. Vì vậy, cái lớp bổ túc văn hóa ban đêm ấy là niềm an ủi còn lại của tôi. Khi nghe tôi kể đến đây, dường như không thể nào chịu đựng được nữa, anh chồm người  ôm lấy tôi, nói trong nước mắt:
–         Thầy ơi, sao tôi lại dốt thế? Đúng là tôi ngu như heo, thầy ơi! Tội tôi lớn quá, thầy ơi!
–         Anh say rồi! – Tôi vừa nói vừa dìu anh lại cái phản gõ kề bên để anh nằm nghỉ. Khi đâu vào đấy, anh kéo tôi ngồi một bên:
–         Sao anh lại chọn cái nghề bắt heo? Tôi nói điều này có thể là anh không vui, nhưng nhờ có “thuốc gan”, nên nghĩ sao tôi nói vậy. Cái anh “Bảy Đáp” là cái anh vai u thịt bắp, còn anh thì khác, thế sao anh lại chọn cái nghề này để mưu sinh. – Tôi cười và nói:
–         Nghề nó chọn mình mà anh. Hồi nãy thì anh say, bây giờ thì anh sai rồi! Nghề nào cũng có cái khó riêng của nó. Không có học thì không làm tốt được. Theo tôi được biết thì xưa nay chỉ có một người không biết chữ mà làm nên nghiệp lớn, đó là Trần Thủ Độ. Ông đã dựng nên Vương nghiệp nhà Trần – 3 lần chống quân Nguyên với những chiến công hiển hách trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc.
–         Đ ã  n h ậ u…mà anh nói…giống như giảng bài vậy. – Anh lè nhè, mắt thì nhắm riết
Rồi tôi nói thì nói mà anh thì ngáy khò khò tự lúc nào, nhanh thật. Tôi bước xuống khỏi phản gõ, lững thững bước ra sân trước. Tôi hiểu sự suy nghĩ của anh, và đâu phải chỉ riêng anh. Cái anh xách cái rọ đi mua heo thì có mấy ai tôn trọng. Lớn hay nhỏ gì đi nữa thì người ta cũng gọi là thằng mua heo, ăn nói không thiệt, gian xảo trong coi cân, tính ký, trả tiền…Ngày xưa tôi cũng nghĩ vậy nên khi vợ tôi đặt vấn đề làm nghề mua heo, ban đầu thì tôi phản đối, nhưng “cơm áo không đùa với khách thơ” mà, sau rồi cũng phải chấp nhận, bởi hai đứa con đang sức ăn sức lớn, tiền học phí, tiền xây dựng trường, tiền học thêm ở lớp, ở nhà thầy, cô bộ môn, vân vân và vân vân…Hơn nữa, tôi nghĩ điều quan trọng là chuyện đúng sai, gian xảo hay không đều do bản thân của mỗi người tự quyết định lấy chứ đâu phải do cái nghề, mà làm gì có nghề nào là sang, nghề nào là hèn. Thế là tôi chọn nghề mua heo, mổ  lấy thịt cho vợ tôi bán. Đúng là có vô cuộc thì mới hiểu. Cái nghề đi mua heo cũng lắm chuyện buồn vui. Người bán heo luôn cho ăn no để bán, chứ không đời nào để heo đói cả. Nếu đến chuồng để ngã giá khi heo quá đói thì dù có trả đến rách miệng người ta cũng không bán. Nhất là khi đến gần ngày tết hoặc ngày lễ, mua heo no, heo lưng lửng về mổ để bán là điều không thể tránh khỏi. Bởi mình không mua thì người khác cũng mua. Dân mua heo chuyên ngiệp thường mua bộ chứ không mua cân. Mà quần qua quần lại, họ cũng mua được, vẫn có lời. Tôi vào nghề cũng được ba, bốn năm, nhưng cái khoản ấy thì đành chịu. Có một lần, tôi cũng tập tò mua bộ một cặp heo, về cân lại mới biết bị hố, mất đến 10 ký, lỗ nặng, tối về vợ tôi chỉ biết khóc. Một anh mua heo biết chuyện nên mới kể cho tôi nghe câu chuyện thế này: Hôm đó, anh gặp một con heo rất đẹp, chủ nhà là một phụ nữ khoảng trên 60 tuổi. Bà sợ mấy thằng mua heo vặn cân bẻ móc léo lận nên chỉ bán bộ mà không bán cân. Vì cái chuồng sâu nên bà nghĩ con heo nhỏ chỉ độ 65 ký là cao nhất, nhưng dưới cặp mắt nghề nghiệp của anh thì con heo phải đến 75 ký. Lúc ấy giá thị trường một ký heo hơi là chín ngàn. Qua năm bảy lần định ký của con heo, anh gút lại, 70 ký. Anh nhân luôn: bảy lần chín là năm mươi ba, tức năm trăm ba chục ngàn đồng. Anh trả tiền và xúc heo vào rọ. Thế là kẻ bán người mua đều vui vẻ. Và, hôm sau, người phụ nữ bán heo ngày trước chận đường anh và bảo rằng:
–         Hôm qua anh nhân sai rồi. Con gái tôi bảo, chín lần bảy là sáu mươi ba, tức sáu trăm ba chục ngàn, chớ không phải năm trăm ba.
–         Con chị có học, nó khác. Còn tôi nhân chia đâu đã rành. Hơn nữa, tôi mua bộ, chị đồng ý bán, chứ có tính cân tính ký gì đâu mà nói chuyện nhân đúng nhân sai.
Khi kể xong câu chuyện, anh nhìn tôi và nói như đinh đóng cột:
–         Tôi ở gần anh nên tôi biết, anh không thể tồn tại với cái nghề này đâu. Đã cầm cái rọ đi bắt heo thì phải mua heo chết, heo bệnh với giá rẻ như cho, mới có lời nhiều. Nhưng anh lại áy náy lương tâm vì sợ ảnh hưởng sức khỏe người tiêu dùng. Thế anh coi, người chăn nuôi vẫn bán được hết đấy. Và, ngoài chợ đến chiều tối có còn miếng thịt heo nào đâu…Ngay cả gặp con heo đẹp, anh không có thế để bắt, làm gãy một hay hai chân, thậm chí là bốn chân của nó, thì chỉ có đường lỗ vốn, chứ không có đường huề. Thôi, anh hãy kiếm chuyện khác mà làm. Tôi không hiểu sao anh lại chọn cái nghề này?
Hai người, một bán heo, một mua heo, cũng đều có một câu hỏi dành cho tôi. Cái anh bán heo vì sĩ diện cho tôi, bởi dù sao tôi cũng là người đã từng làm thầy. Còn anh bạn đồng nghiệp thì cho rằng tôi sẽ thất bại bởi tâm thế của tôi không say mê với cái nghề xách rọ đi mua heo. Riêng tôi, nghề mua heo cũng bình thường như bao nghề khác. Bởi ngay từ còn học lớp 8, tôi chịu ảnh hưởng sâu sắc sự nhận thức “làm quan không lấy làm vinh, làm lính không lấy làm nhục” của Nguyễn Công Trứ. Vấn đề là đừng làm điều gì trái với đạo lý ở đời là được. Nếu làm thầy mà cứ tìm cách trù dập, moi tiền của học trò, cứ chạy sô như ca sĩ thì có đáng được tôn trọng không?
Vợ tôi thường hay hỏi, liệu tôi có kham nổi cái nghề này. Tôi bảo, việc gì cũng phải có thời gian, rồi sẽ quen thôi. Vợ tôi cười, rằng tôi có thể quen với sự nặng nhọc, nhưng không thể quen với mặt trái có tính đặc thù của nghề này. Bởi bao năm chung sống với nhau, vợ tôi hiểu tôi sống ở đời có những nét giống như sống với những nhân vật điển hình tốt đẹp trong phim ảnh, trong tiểu thuyết vậy. Vợ tôi còn bảo, có khối người mới đó chỉ lớp 5, lớp 6, thậm chí viết một câu, giải phương trình một ẩn cũng chưa nên mà nay đã có bằng tốt nghiệp phổ thông, bằng đại học, đâu cần có thời gian…Tôi im lặng. Vợ tôi còn tiếp đòn, mấy người ra nghề sau tôi nhưng tay nghề của họ, nay có thể nói là bậc thầy trong làng mua heo. Họ cất nhà tầng, xe máy loại xịn, nội thất không thiếu gì…Còn vợ chồng mình thì sao? Vẫn ở nhà của thiên hạ, hết chỗ này đến chỗ khác, không một tấc đất cắm dùi…
 Khi nghe những lời như vậy, tôi nhìn vợ tôi, mắt tôi như căng cứng, cay rát như muối ớt xát vào…Tôi bước ra đường, đi như người say rượu. Trước mắt tôi như một khoảng không vô định. Tôi chua xót với chính mình. Tôi cũng đã đọc sách hướng dẫn về cách nhìn, cách đo chiều dài vòng bụng, chân dài ngắn… của con heo để xác định trọng lượng. Anh em mua heo còn mách nước, con heo nằm ở chuồng cao, khi nhìn cứ tưởng  là nhiều ký nhưng thực ra không như vậy, người mua bộ dễ bị đánh lừa. “Thức đêm mới biết đêm dài”, đó chỉ là lý thuyết. Phải có cái nhìn mẫn cảm sau nhiều năm tích lũy kinh nghiệm về mua bộ thì phần sai lệch sẽ rất nhỏ. Ngoài ra, việc nhìn con heo nạt hay mỡ cũng vậy, phải tìm hiểu kỹ càng nhà đó thường cho heo ăn thức ăn gì, giống heo được mua về từ đâu, nước da thế nào, cái lông ra sao, nếu không thì nhìn con heo mỡ mà cứ cho rằng nạt thì chỉ có đường chết…Nếu sai sót là lần đầu tiên thì vợ con cũng chỉ buồn mà không nói gì, nhưng lần 2 lần 3 thì chì chiết, nói những lời khó nghe, thậm chí xúc phạm nặng nề: “ Ông học lớp này lớp kia làm chi mà tính không ra cân ra ký, hơn nữa ông đâu có mù mà nhìn con heo mỡ thành nạt vậy.” Thật là đau xót khi nghĩ lại mới ngày nào đó, cái hồi mới yêu nhau còn anh anh em em, còn tặng hoa ngày sinh nhật, tặng một nụ hôn dịu ngọt, nồng nàn ngày 8/3…Thế mà bây giờ mọi cái đã thay đổi. Bi kịch. Nhưng vẫn phải sống với nhau. Một sự thật tàn nhẫn. Và tôi cứ ngẫm nghĩ mãi câu nói của Tô Đông Pha: “Bình sinh ngũ thiên quyển / Nhất tự bất cứu cơ”.
–         Nhìn anh từ nãy giờ, tôi biết anh đang hoài niệm, nhưng anh ơi, mọi cái đã qua rồi. Như sáng nay anh xuống, giờ thì đã trưa. – Một vòng tay nhẹ nhàng ôm lấy vai tôi. Thì ra, anh chủ nhà đã tỉnh rượu và đang đứng bên cạnh tôi – Anh biết không, tôi thoát ly năm 17 tuổi. Chiến tranh kết thúc, tôi là thương binh hạng 2/4. Gần 10 năm sau, tôi được phân công làm giám đốc công ty xây dựng, một công việc vượt quá khả năng của tôi cả về chuyên môn lẫn văn hóa. Tôi phải học bổ túc văn hóa từ lớp 3, cố gắng đến hết lớp 9. Tôi dừng lại ở đó vì vết thương cũ tái phát hành hạ, cứ vài ngày lại phải nằm viện để điều trị. Và, điều quan trọng là tôi không kham nổi cái việc được phân công. Trong đơn vị, cứ bàn tán nói vào nói ra, bảo tôi là dân thoát ly, lại là thương binh, có thành tích trong kháng chiến, nên mới được làm giám đốc, chứ thực ra…Dù biết họ nói không sai, nhưng tôi thấy mình bị xúc phạm. Và thế là tôi xin nghỉ, hưởng chế độ mất sức, về nhà nuôi heo, làm ruộng, như ngày xưa ba má tôi vẫn làm, sống thanh nhàn cùng bà con lối xóm.
–         Phải chi anh còn làm, chắc sẽ khá hơn nhiều!
Anh cười hiền.
 – Và, bây giờ tôi muốn hỏi anh, nếu có kiếp sau thì anh thích làm thầy giáo hay thích đi mua heo?
–         Nếu được, tôi cũng chỉ thích xin như Nguyễn Công Trứ đã từng xin:                                                                     
     Kiếp sau xin chớ làm người        
     Làm cây thông đứng giữa trời mà reo!
N.H.D

Read Full Post »

Nguyễn Hữu Duyên

Đất trời đang rạo rực bước vào thềm xuân. Nỗi nhớ quê sao mà da diết nặng lòng! Nhớ hết, nhớ đến xót xa! Với tôi, cảm giác ấy lại đến khi mình đã gần sáu mươi tuổi đầu phải ăn tết xa quê gần bảy trăm cây số. Cái làng Cây Bông ( Nhơn Khánh, An Nhơn, Bình Định) nằm giữa hai nhánh sông Côn, nơi tôi đươc sinh ra và lớn lên mãi mãi là nơi đẹp nhất, ân tình sâu nặng nhất của đời tôi, dù tôi có rày đây mai đó trôi dạt đến phương trời nào cũng thế. Bởi nơi đó là nơi chôn nhau cắt rốn của tôi, có mẹ cha tôi lam lũ, tảo tần, vất vả nuôi chín anh em tôi ăn học theo chiều dài năm tháng cuộc đời. Và, làm sao có thể quên được những đêm giao thừa, bạn bè chúng tôi tụ hội về một ngôi nhà nhỏ ngả ba chợ Cây Bông với những cây đèn bạch lạp sáng lung linh, nào rượu, nào đàn, nào bánh tét, bánh in…đàn hát, ngâm thơ cho đến gần sáng mới về nhà. Và như thế, mỗi độ xuân về, chúng tôi lại khát khao được gần bên nhau, kể cho nhau nghe bao chuyện buồn vui sau những ngày lo toan của cuộc sống. Rồi, trong những ngày xuân, lại dắt dìu nhau trên con đường làng, đến thăm bà con lối xóm, uống ly rượu xuân ngọt nồng tình nghĩa quê hương. Ăn tết xa quê vì cuộc mưu sinh mới thấy thèm thấy nhớ một đòn bánh tét, một cái bánh chưng, một miếng gừng cay của gia đình gửi cho, mới thấy nó quý đến dường nào cái hương vị quê ngày tết, làm cho ta không còn cảm thấy lạnh lòng.

Tết quê ơi, ta mãi nhớ những chuyến xe ngựa đầu năm được trang trí đủ sắc màu của các chùm bong bóng từ Cây Bông xuôi về thị trấn Bình Định rủ nhau chơi hội chợ xuân, đánh cổ nhơn, xem đánh cờ người…Có thể nói, dù là kéo xe nhưng phần lớn những chú ngựa đó đều có tên tuổi trong làng đua, và làng tôi nổi tiếng là làng xe ngựa. Không phải riêng chúng tôi mà nhiều thế hệ ở Cây Bông đều lớn lên từ hạt gạo xe ngựa. Ba tôi từng là quán quân trong một cuộc thi đua ngựa ở tỉnh. Những tay đua ngựa trong và ngoài huyện gọi ông là “ tráng sĩ”, bởi ông rất giỏi khi lên lưng ngựa, và dù con ngựa đó chứng cỡ nào ông cũng trị được. Tết này ông vào tuổi tám mươi lăm. Ông rất cần có tôi vì tôi là con trai trưởng. Ông thương tôi vì đời tôi quá lận đận và quá nghèo. Những ngày giáp tết, ông không nỡ hỏi, tết này con lại không về sao, bởi ông không muốn làm tôi bị tổn thương, không muốn khơi nỗi đau thèm khát vì không được hưởng cái tết quê yên bình. Riêng tôi luôn nhớ, kính trọng ông cùng người phụ nữ đã gần sáu mươi năm chung thủy với ông, nuôi chín đứa con lớn lên từng ngày, đó là má tôi. Là con gái đất Thành, xinh đẹp- nhưng phải nói rằng bà rất chịu thương chịu khó và rất giỏi từ chuyện đồng ruộng cho đến bán buôn, nhất là bà chuẩn bị những món ăn ngày tết.
Sài Gòn không thiếu gì đặc sản các vùng miền và của nhiều nước trên thế giới, nhưng tôi vẫn thèm cái món bì hay còn gọi là tré do má tôi làm, ngon đến mức đâm ghiền. Tôi được biết là nó được làm từ tai mũi heo đem luộc, lấy hạt mè, hạt tiêu củ riềng làm gia vị chính, lấy lá ổi bọc lại, ngoài cùng là rạ, lấy lạt tre buộc như đòn bánh tét, khoảng ba ngày là ăn được. Mấy anh em tôi ăn sáng vào những ngày tết, đứa nào cũng thích món này, nhất là dùng bánh tráng cuốn nó với rau sống, dưa leo và củ kiệu. Ngó đi ngó lại, mới đó mà đã gần đến tết rồi! Làng Cây Bông của tôi ơi, sao mà tôi nhớ, nhớ đến nao lòng! …Một chút se lạnh của những ngày cuối đông. Thành phố Hồ Chí Minh rộn rã, tưng bừng như mùa xuân đang đến sớm với bao sắc màu quyến rũ, nhưng không hiểu vì sao trong tôi vẫn đắm chìm cái nỗi nhớ tết quê của làng tôi, cái làng Cây Bông nhỏ bé rất đỗi thân thương của cuộc đời mình

 
Nguyễn Hữu Duyên

Read Full Post »

Nguyễn Hữu Duyên
Tôi chưa bao giờ học thầy trong những tiết học chính khóa, bởi thầy dạy  lý hóa cấp hai còn tôi lại học lớp mười hai, nhưng thầy là người thầy tôi nhớ và kính trọng nhất. Tên đầy đủ của thầy là Hoàng Văn Xê, người Huế, năm một ngàn chín trăm bảy ba về dạy trường Trung học Đào Duy Từ (nay là trường PTTH An Nhơn 1) thuộc huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. May mắn đã đưa tôi đến với thầy. Đó là một buổi chiều vào đầu tháng mười một năm đó, sau khi tan học, tôi cầm còi điều khiển sinh hoạt vòng tròn và tập hát cho một lớp bảy, giúp các em chuẩn bị đợt cắm trại của trường vào cuối năm. Thầy đến bên tôi sau khi buổi sinh hoạt kết thúc.
– Em học lớp mấy?
– Dạ, em học lớp mười hai A2.
– Sao em không tập trung nhiều hơn vào việc học, em không sợ rớt   tú tài sao?
Tôi cúi đầu im lặng.
          -Em có gì khó nói?
          -Thưa thầy, em ham chơi nên bị hổng kiến thức cơ bản, đã tháng mười một rồi, có tập trung  cũng không kịp, thầy ạ!
Thầy nắm tay tôi, hai thầy trò bước chầm chậm trong sân trường như hai anh em, bởi năm đó tôi mười chín, thầy khoảng hai ba, hai bốn tuổi.
–          Không có gì là muộn cả, cứ vô ở với thầy, thầy sẽ giúp.
    Tôi thực sự như người “buồn ngủ gặp chiếu hoa”. Bởi thời điểm ấy ở đất này không có những lớp dạy kèm cũng không có những “cua” luyện  thi, học sinh phải tự học. Thế là tôi mang sách vở đến nơi thầy ở phía sau trường khoảng một trăm mét, cùng với một thằng bạn nữa, cũng ham chơi như tôi, học lớp mười hai A1.
     Buổi đầu tiên, thầy nói :
         -Nhìn các em điều khiển vòng tròn sinh hoạt, xử lý tình huống rất nhạy bén, thầy tin các em sẽ học tốt nếu tập trung.
 Có thể nói, đây là lời động viên thật quý giá giúp tôi và thằng bạn tự tin hơn. Sau khi kiểm tra kiến thức cơ bản, thầy đã phải dạy lại từng bài toán lý hóa chương trình lớp mười một, có khi phải rà lại chương trình lớp chín, lớp mười. Đây là những ngày học tập thật vất vả, bởi cùng một thời điểm mà phải vừa hoàn thành các bài học trên lớp, vừa phải tập trung ôn lại kiến thức lớp dưới để tiếp thu được kiến thức lớp trên, nhất là trong thời gian nửa tháng đầu tiên. Nhưng vất vả nhất là thầy. Vì thầy phải sinh hoạt chuyên môn, soạn bài, chấm bài, lên lớp các tiết học chính khóa, rồi phải lục tìm sách vở liên quan, soạn bài giảng dạy cho hai đứa nữa. Trong suốt thời gian dạy kèm, đâu phải thầy giảng một lần là hai đứa hiểu liền, nhưng thầy không hề nhăn nhó, phàn nàn hay trách mắng. Ngược lại còn kể chuyện vui khi thấy chúng tôi căng thẳng khi không làm bài được. Đó là chưa nói trong quá trình dạy kèm chúng tôi, mỗi khi đứa nào giải được bài toán khó, thầy thường thưởng năm chục hay một trăm đồng, có tiền sáng mai ăn bánh mỳ, ăn chè. Bây giờ nghĩ lại tôi cũng không thể lý giải được vì sao thầy lại chịu khó và thương hai đứa tôi như vậy. Hằng đêm sau khi học xong, khoảng mười giờ đến mười giờ rưỡi, thầy ôm đàn măng-đô-lin, tôi cầm ghi-ta, ba thầy trò cùng hát những ca khúc viết về đồng quê, sinh hoạt cộng đồng. Nhờ thầy nên chỉ sau nửa tháng, tôi và thằng bạn đã cơ bản nắm được kiến thức, có chiều hướng theo kịp các bạn trong lớp, nhất là môn lý hóa. Điều quan trọng nhất là thầy đã làm cho tôi và thằng bạn tự tin, có động cơ học tập, không còn ham chơi, tập trung học. Nhờ vậy nên kỳ thi năm một ngàn chín trăm bảy tư, tôi và thằng bạn đều đậu tú tài toàn phần. Gần bảy tháng kèm hai đứa tôi học, đầu tư công sức rất nhiều, thầy chỉ lấy hai bản sao văn bằng tú tài bằng thư bảo đảm của chúng tôi gửi ra Huế vì lúc đó thầy về Huế nghỉ hè. Khi gặp lại, thầy ôm tôi như ôm một đứa em trai bé bỏng, bóp bóp tay tôi và nói:
–          Hai đứa đã không phụ lòng thầy.
Tôi biết thầy rất vui vì đã thực hiện được lời hứa giúp đỡ trực tiếp hai đứa học trò đầu tiên của thầy đậu tú tài.
        Sau ngày giải phóng, thầy được phân công về dạy trường Trung học cơ sở xã Đập Đá ( nay là thị trấn Đập Đá ). Lúc đó tôi theo học trường Cao đẳng sư phạm QuyNhơn. Thỉnh thoảng, vào chiều thứ bảy, hoặc sáng chủ nhật, tôi đón xe từ Quy Nhơn về thăm thầy đang ở trọ tại Đập Đá. Thầy đi chợ nấu ăn, không cho tôi làm gì cả ngoài việc lặt rau, bởi với thầy thì tôi như một cậu học trò nhỏ, được ưu tiên chăm sóc giống như ngày xưa thầy chuẩn bị nồi chè hay bữa bánh nếu tôi và thằng bạn học khuya đói bụng. Rồi hai thầy trò, một măng-đô-lin, một ghi-ta cùng hát những bài sinh hoạt cộng đồng, hoặc những ca khúc của thầy viết vừa được giải ở tỉnh. Tôi ra trường, trở thành đồng nghiệp của thầy, nhưng thầy mãi là người thầy mà tôi yêu thương nhất trong cuộc đời mình. Năm hai ngàn linh năm, thầy định cư ở Mỹ cùng với gia đình. Thầy ở cách xa tôi nửa vòng trái đất, và lâu lắm rồi hai thầy trò không gặp nhau. Nhưng với tôi khoảng cách địa lý không quan trọng, bởi tôi luôn mãi  nhớ thầy. Dù trước mặt thầy, chưa bao giờ tôi nói những lời biết ơn hay ngợi ca thầy, nhưng làm sao tôi có thể quên những ngày bên thầy với chiếc đèn dầu hằng đêm được nghe thầy giảng bài, nghe thầy hát của gần bốn mươi năm về trước. Thông thường, thời gian làm cho trí nhớ người ta bị bào mòn, thậm chí mất hẳn, nhưng với thầy thì ký ức trong tôi lại được lưu giữ mãi. Bởi thầy đã đưa tôi qua một khúc ngoặt quan trọng nhất của đời học trò- một việc không thực sự dễ dàng đối với một người thầy mới ra trường, vừa phải hoàn thành  nhiêm vụ chuyên môn ở cấp hai vừa phải dạy kèm hai đứa học trò lớp mười hai thuộc loại “ dốt đặc cán mai”.
      Lớn lên tôi đi đây đi đó, lập gia đình, có hai đứa con đi học. Tôi làm ban điều hành hội cha mẹ lớp và  nhà trường trong nhiều năm liền nên có điều kiện tiếp xúc với nhiều thầy cô giáo. Nhưng riêng tôi vẫn thấy ở thầy, hình ảnh thực sự của một người thầy có tâm và có nghề. Thầy là người thầy duy nhất mà cả gia đình tôi, từ ba má, đến các em tôi, vợ con tôi đều biết và kính trọng. Cuộc sống luôn đổi thay, tôi cũng đã gần sáu mươi tuổi, nhưng trong tôi vẫn còn in đậm hình ảnh rất đẹp của thầy với giọng  Huế không trộn lẫn vào đâu được. Và, thằng học trò ham chơi, biếng học ngày nào xin cầu chúc thầy mãi mãi sức khỏe, hạnh phúc !


 

Read Full Post »

Tản mạn về cái phận nghèo

  Nguyễn Hữu Duyên

Từ ngàn xưa, ông cha ta thường nói không nên vạch áo cho người xem lưng, mà chuyện nghèo có hay ho gì đâu mà nói cho thiên hạ biết. Phân vân mãi rồi tôi cũng muốn chia sẻ, giãi bày về cuộc mưu sinh khá là vất vả, cơ cực của 30 năm sau khi lập gia đình từ năm 27 tuổi. Nếu tính thời gian của cuộc đời này là 60 năm như lời một bài hát thì tôi chỉ còn 3 năm nữa mà thôi. Nhiều lúc tôi tự hỏi, tại sao tôi lại chịu đựng được cái nghèo cứ đeo bám tôi dai dẳng như vậy?Từ thuở ấu thơ đến lúc trưởng thành, ba dạy tôi rất nhiều điều về cách ứng xử trong cuộc sống, nhưng điều tôi tâm đắc nhất vẫn là câu tục ngữ: “Nghèo cho sạch, rách cho thơm”. Ông giải thích ngắn gọn và dễ hiểu, tôi trân trọng mang nó vào đời. Cuộc sống viên chức của gần 30 năm về trước với đồng lương khiêm tốn làm cho gia đình tôi lâm vào cảnh thiếu thốn triền miên.Những bộ sách hay của văn học Việt Nam và những tác phẩm của các tác giả đạt giải Nôben được tôi cất giữ cẩn thận, rồi cũng đều bị tôi xé từng tờ đưa vào lò lửa khi nồi cơm, nồi canh đang lỡ dở mà hết củi chụm. Vợ tôi ngồi khóc khi thằng con trai 6 tuổi bị sốt do viêm họng mà không có tiền để đi mua thuốc hoặc đi bệnh viện. Tôi phải lục trong ký ức, chạy ngược chạy xuôi cho đến khuya mới tìm ra một thằng bạn học có vợ làm y tá trong bệnh viện huyện xin mấy viên thuốc kháng sinh và paracetamol.

Thằng bạn từ Quy Nhơn lên chơi, nhà hết gạo, chẳng còn tiền, lương thì chưa nhận, vợ tôi phải sang nhà hàng xóm mượn một ký gạo đem ra chợ bán nửa ký mua đồ ăn, làm cơm tiếp bạn. Nhưng tôi nhớ nhất là năm 1992, cái năm ở nhờ trong vườn trồng tiêu, cà phê của ông chú vợ ở Gia Lai, và chịu trách nhiệm coi ngó cái xưởng gỗ của ông. Số tiền mang theo ít ỏi dùng để mua gạo ngày càng cạn dần.

Một bữa trưa vì đói nên tôi ra vườn moi các luống rau lang tìm củ, nhưng tìm mãi mà không có một củ nào, tôi đành phải nói với vợ lấy cái lon bắp giống rang cho tôi ăn đỡ đói. Cái nghèo đói của tôi không chỉ là những dòng nêu trên, bởi đến 30 năm kia mà. Nhưng chỉ mới viết lại đơn giản chừng ấy thôi, tôi rùng mình phát hoảng và thương hại cho cuộc đời mình, nghèo đói đến thế là cùng.

Khi mới lập gia đình, má tôi bảo rằng con cố gắng làm để khỏi phải nghèo, mà nghèo thì khổ đủ điều. Lúc ấy tôi chỉ cười và nói, con chỉ sợ giàu, phải lo xây nhà kiên cố, tường rào cổng ngõ phải bài bản, phải có chó dữ, ra đường phải nhìn trước ngó sau đề phòng trộm cướp, đi đâu cũng kẻ đón người chào mất tự nhiên. Nghe tôi nói vậy, má tôi không nói gì, chỉ cười buồn.Không hiểu sao cái nghèo đói luôn bám riết lấy tôi, mà tôi thì không rượu chè, không cờ bạc, cũng chịu làm để góp phần lo cuộc sống gia đình và nuôi con ăn học. Nghèo thì nghèo vậy, nhưng tôi luôn lấy làm hãnh diện, thấy mình nhẹ nhàng, thanh thản vì không làm điều gì trái với lương tâm, như lời ba tôi đã dạy, đã giải nghĩa câu tục ngữ: “Nghèo cho sạch, rách cho thơm”. Cho đến bây giờ tôi vẫn nghĩ, tiền bạc của cải như bọt biển, chữ tình mới là sâu nặng bền lâu.Cách đây 20 năm, tôi đọc một bài viết trên tờ Văn nghệ trẻ mà tôi không nhớ tựa đề, nhưng có một câu gồm ba chữ “nghèo là nhục”. Phải nói là lúc ấy tôi thực sự nổi giận, và tìm người bạn rất thân chia sẻ những suy nghĩ của mình. Anh bạn của tôi thì cho rằng, lúc này là lúc nào rồi mà tôi còn ôm cái triết lý cũ mèm của ngày xửa ngày xưa ấy. Nghèo là nhục, chính xác tuyệt đối!

Anh bạn còn nói bởi vì tôi chưa nghèo đói đến mức thấy hết sự đối xử của người đời dành cho mình. Ví dụ không có nhà, người ta đuổi ra đường; không có tiền, người ta không cho mượn mà còn miệt thị chửi mắng. Chỉ chừng ấy thôi, không lẽ không nhục sao? Hơn nữa cái hãnh diện của người có tiền, của người giàu khác hẳn với cái hãnh diện gần như là một cái thú đau thương của người nghèo.

Riêng tôi thì cho rằng, nghèo nhưng có lòng tự trọng, không đánh mất nhân cách, có thể chết vì đói, lang thang nay đây mai đó vì không nhà cửa, nhưng không thể là nhục được. Tôi và người bạn tranh luận với nhau rất gay gắt, không có hồi kết. Và cuộc tranh luận ấy ít nhiều đã làm tôi phải suy nghĩ thêm về những điều mà cái nghèo phải gánh chịu trong cuộc sống những năm sau này, nhất là lời căn dặn của má tôi: nghèo sẽ khổ đủ điều.

Thời gian trôi qua như là một thước đo kiểm nghiệm giá trị của cuộc sống. Ba má tôi ngày càng già yếu, các em tôi lớn lên rồi lập gia đình, có đứa giàu đứa nghèo, lâu lâu mới gặp nhau. Tình cảm cũng không còn như ngày nào sống chung dưới một mái nhà. Tôi là con trai trưởng nhưng tiếng nói không còn trọng lượng, bởi quá nghèo. Ba má tôi không bao giờ chê tôi nghèo mà ngược lại còn rất thương tôi, nhưng không thể nghe tôi vì mọi việc trong gia đình đều do những đứa em có tiền của tôi quyết định.

Đến sổ đỏ nhà cha mẹ, tụi nó cũng lấy để vay vốn ngân hàng làm ăn, tôi cần làm gì thì đi vay nóng. Tụi nó cho nhau mượn hàng chục triệu, nhưng tôi chỉ cần ba triệu để nộp học phí cho hai đứa con thì phải mượn hàng xóm. Mà tôi có đến tám đứa em, một thằng đã là tỷ phú, có nhà hàng, có xe bảy chỗ. Có người sẽ nói rằng, có lẽ tôi ăn ở chẳng ra sao nên không có đứa em nào giúp đỡ cả. Đơn giản thôi, khả năng trả nợ của tôi rất thấp, bởi tôi nghèo quá, đang phải tha hương cầu thực, và thế là tôi đã bắt đầu cảm nhận nỗi khổ của kẻ nghèo trong một gia đình.

Nói đúng hơn, với tôi đó là nỗi bất hạnh, là sự tổn thương quá sức chịu đựng. Và tôi đã mường tượng nhận ra người bạn của tôi cũng có phần đúng khi nói nghèo là nhục. Trớ trêu thay khi tôi mường tượng ra điều ấy thì tuổi đã gần 60, cái tuổi không thể dùng cơ bắp nhiều để mưu sinh, nhưng cũng không thể làm khác được. Tuy nhiên vì đã quen với cảnh nghèo nhiều năm nên tôi tiếp tục bước vào cuộc chiến cơm áo gạo tiền cũng hết sức bình tĩnh, cũng ủi đồ, cũng bỏ áo trong quần như ai khi đi ra đường.

Đôi lúc tôi thản nhiên với số phận, bởi cho rằng mình không thể thoát ra khỏi cái cảnh nghèo như câu ca dao: Cây khô xuống nước cũng khô/Phận nghèo đi tới nơi mô cũng nghèo.

Không phải ngẫu nhiên mà tôi nghĩ như vậy. Ở quê, tôi không nhà cửa, tôi xin ở nhờ nhà của bà con họ hàng, nhà của nhà nước, và cái trại bán đồ sành sứ của thằng em trai. Vào Sài Gòn, lúc thì thuê nhà ở Gò Vấp, Bình Thạnh, khi thì Thủ Đức, quận 8, và năm năm rồi trụ được tại quận 9 với cái nồi bún riêu học lỏm. Đời tôi lênh đênh ba chìm bảy nổi như thế thì làm sao dám nghĩ đến chuyện an cư lạc nghiệp, làm sao dám mơ tưởng đến việc thoát được cảnh nghèo.

Về chuyện nghèo là nhục, cũng xin nói thêm rằng, qua hơn 5 năm ở Sài Gòn, tôi thấy người ở thành phố này rất tôn trọng những người chịu thương chịu khó, chịu lao động, mặc dù những người đó rất nghèo. Cái nhìn của người Sài Gòn mang nét hào hoa tài tử của người Nam bộ trọng nghĩa khinh tài. Họ không trọng vì giàu, không khinh vì nghèo. Đã có không ít người của bao thế hệ miền Trung, miền Bắc được người Sài Gòn yêu thương gả con gái tạo điều kiện gây dựng cơ nghiệp vững chắc từ một anh sinh viên nghèo, hay từ một anh công nhân bình thường.

Nghĩ đến những điều ấy, tôi thấy lòng mình như ấm lại. Nghèo không ai khinh, cũng không gọi là nhục được, nhưng như má tôi nói, nghèo sẽ khổ đủ điều, đó là điều chắc chắn. Thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu đủ thứ, không nhà cửa, không lễ tết, không giỗ chạp. Tuy nhiên, điều đáng lo nhất là chuyện đau ốm bệnh tật, nhẹ thì được chứ nặng thì chỉ có chết vì không có tiền nằm viện, không có tiền mua thuốc.

Tôi nói với hai đứa con, bây giờ tôi sợ nghèo còn hơn ma quỷ, sợ đến khủng khiếp, sợ đến phát điên, phát cuồng. Nếu có ai hỏi trên thế gian này tôi sợ nhất điều gì thì tôi sẽ trả lời ngay: Nghèo.

Read Full Post »

Nụ hôn buồn

Nguyễn Hữu Duyên

Khi dẫn con vào Sài Gòn thi đại học năm 2001, tôi có dịp trở lại  thăm con đường Vạn Kiếp sau hai lăm năm – con đường có quá nhiều kỷ niệm của tôi về một thời trai trẻ, về tình yêu của tôi và Huỳnh.

Hầu như lớp bạn thân thiết  hồi ấy, tôi chỉ còn liên lạc được với Trần Lộc, đang làm giám đốc Trung tâm văn hóa  quận Bình Thạnh.Và, rất may, sau bao năm biệt tin nhau, qua Trần Lộc, tôi biết Huỳnh, hiện đang công tác tại một cơ quan trực thuộc Sở điện lực thành phố Hồ Chí Minh đóng trên đường Phan Đăng Lưu. Như có điều gì đó rất mãnh liệt, không thể cưỡng lại được, thúc giục tôi phải đến gặp Huỳnh, nó giống như cỏ cây không thể không hướng về phía mặt trời mọc, như biển cả vẫn muôn đời nổi sóng.Đó là một ngày đầu tháng bảy. Tôi đến cơ quan của Huỳnh trong trạng thái bồi hồi, phấn khích đến khó tả, bởi tôi cũng không tin là mình có dịp được gặp lại cô bé mười sáu tuổi học lớp chín ngày nào.

– Xin lỗi, anh có việc gì cần sự giúp đỡ? – Huỳnh thong thả ngước lên, hỏi một cách lịch sự.

Tôi lúng túng như gà mắc tóc :
– Xin hỏi, em có phải là…
– Trời ơi! Anh Duyên, anh vô hồi nào vậy?

Huỳnh đã kịp nhận ra tôi dù một phần tư thế kỷ không găp nhau. Thế là chiều hôm  đó sau khi tan tầm ở sở làm, hai đứa lên quán nước trên một con đường nhỏ thuộc quận Phú Nhuận. Công bằng mà nói, Huỳnh đẹp hơn nhiều so với thời con gái, đằm thắm và quý phái, mặc dù đã ở tuổi bốn mốt. Đặc biệt nhất vẫn là đôi mắt đen láy, lấp lánh, và càng quyến rũ hơn so với thuở em yêu tôi.

-Em đẹp hơn ngày xưa nhiều, và nhất là đôi mắt, anh không thể quên được.

Tôi nói và nắm tay Huỳnh đặt lên bàn tay tôi, như tìm lại cái cảm giác âu yếm, ngọt ngào và dịu êm của thời bên nhau thật xa ấy nghe lòng mình một chút nuối tiếc, một chút xót xa, nghe tim mình thổn thức với  nỗi niềm của một thời yêu đương cháy bỏng, đắm đuối, và mê say… Huỳnh kể cho tôi nghe về số phận bất hạnh của em. Có chồng năm mười chín tuổi, gần ba mươi tuổi thì ly hôn. Hai đứa con trai, một đứa nghiện ma túy được đưa vào trại cai nghiện, đứa nhỏ đang học lớp mười hai. Huỳnh vẫn sống một mình đã hơn mười năm rồi. Em phải lo tất cả chi phí cho đứa con ở trại cai nghiện cũng như thằng nhỏ còn đi học. Và chồng của Huỳnh đã có vợ khác.

– Số em nó cô đơn mà! Huỳnh xoa xoa bàn tay tôi, ánh  mắt buồn buồn, nói chầm chậm.

Nói thật lòng, là thằng đàn ông, cũng không phải là thần thánh, nên  sự ham muốn sắc dục là vô cùng, nhất là khi gặp lại người yêu cũ sau một thời gian dài không gặp nhau, đã ly hôn và đang cô đơn. Trong tôi lại bùng cháy dữ dội sự khát khao được cận kề bên nhau, được tay trong tay ôm ấp ái ân dù muộn màng, dù chắp vá, dù không bao nhiêu ngày, như không thể khác được. Thế nhưng số phận đớn đau của Huỳnh đã như tảng băng đè nặng lên người tôi, bóp nghẹt cái dục vọng bản năng của tôi đối với một người phụ nữ đã từng dâng hiến trọn trái tim mình ở tuổi mười sáu, cái tuổi của mộng mơ và thật đẹp của đời con gái.

Sài Gòn lên đèn, lung linh, rực rỡ sắc màu. Tôi và Huỳnh vẫn ngồi bên nhau, như không muốn đánh mất giây phút hoài niệm này. Nó như món quà quý giá mà tạo hóa ban tặng cho chúng tôi, như chữ duyên đã được định sẵn cho hai con người đã trót không trọn vẹn cùng nhau thời còn trẻ, được một chút bên nhau khi mái tóc đã bắt đầu có một vài sợi bạc.

–   Sao em không đi bước nữa?

Huỳnh cười buồn, không trả lời câu hỏi của tôi, mắt nhìn ra đường như đang nhớ về một thời rực rỡ của con “chim én vàng” tung tăng bay lượn mà tôi đặt cho em ngày ấy, cái ngày em mười sáu tuổi. Và, bỗng nhiên trong tôi –  bao nhiêu kỷ niệm tràn về…

Nhưng để ngăn chặn những xúc cảm đến bất chợt về những hạnh phúc, đớn đau từ khi Huỳnh có chồng, tôi kể cho em nghe về gia đình của mình, một vợ hai con, đứa con lớn vào Sài Gòn thi đại học, con gái nhỏ hết hè này vào lớp mười một, và vợ tôi thì buôn bán tảo tần nuôi hai con với một chồng.

Có lẽ chuyện tôi kể về bản thân cũng như gia đình của mình như một kết thúc có hậu của một cuộc gặp tâm tình, giải bày những sẻ chia của hai con người đã có một thời yêu nhau, luôn nhớ về nhau – làm tôi trở lại trạng thái tâm lý cân bằng, đẩy lùi những bồi hồi và dục vọng khó cưỡng nổi dù chỉ là một nụ hôn dịu ngọt êm đềm nhưng nóng bỏng khát khao của ngày xưa ấy, cái ngày xưa em viết trên tấm hình của em gửi tặng tôi :

Anh về Bình Định cho em nhớ,
Những đêm dài sánh bước bên anh!

Khi đến lúc phải ra về vì trời khuya lắm rồi, Huỳnh nhìn sâu vào mắt tôi- khẽ nói :

– Đêm nay anh không ở lại với em sao? Bao năm cách biệt, anh không…

Tôi thực sự bối rối. Ham muốn của thằng đàn ông và bổn phận của người cha- giằng xé lấy tôi. Tôi về, Huỳnh sẽ bị tổn thương, nhưng nếu ở lại thì con tôi sẽ rất lo lắng, bởi không biết chuyện gì xảy ra với tôi. Hơn nữa tôi không thể để con tôi ngủ một mình khi lần đầu tiên đến Sài Gòn.

–         Anh sẽ ở lại cùng em, nhưng anh chỉ ngại một điều, là con anh sẽ rất lo lắng và sợ nhiều điều.

Điều tôi nói đã chạm vào trái tim người mẹ vốn có nhiều vất vả, cực nhọc vì con sau khi ly hôn, đã giúp tôi giải được bài toán khó. Huỳnh cười :
–         Anh sợ thằng con về mét với bà xã chứ gì? Sài Gòn rộng lớn, có quá nhiều lý do mà anh! Như ngày xưa anh bỏ họp để đi chơi với em, anh báo với chi đoàn là đi đón người thân từ ngoài quê vào, có ai biết đâu!

Tôi bật cười vì chuyện ngày xưa ấy. Huỳnh lắc lắc tay tôi :
–         Em nói vui vậy thôi. Anh hãy về để thằng bé khỏi lo. Hơn nữa…
–         Hơn nữa sao em?
–         Anh già rồi! Anh không thấy như vậy sao?

Tim tôi chợt nhói đau. Tôi biết là Huỳnh vẫn còn yêu tôi rất mãnh liệt. Tôi không phải là gỗ đá, cũng không tránh khỏi cái cảm xúc bồi hồi như thuở mới yêu, nhưng cái gánh nặng  áo cơm, trách nhiệm gia đình đã làm trái tim tôi gần như xơ cứng.
–         Anh về đi kẻo khuya trời lạnh!- Huỳnh giục tôi.

Tôi ôm hôn Huỳnh, một nụ hôn tạm biệt, dịu ngọt, và tôi nghe những giọt mặn đớn đau như đang chảy vào trong tôi, nhớ mãi, nhớ mãi… Huỳnh ơi!

 

Read Full Post »

Older Posts »