Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘Huỳnh Kim Bửu’

 

 

  Trương Văn Dân

Huynh Kim Buu

Một buổi sáng nắng nhẹ, trời trong. Anh giáo trẻ dáng dỏng cao bước vào lớp đệ tứ, khẽ hất ngược mái tóc ra sau rồi nhìn các cô cậu học trò :

“Hôm nay trời thật đẹp! Ngồi trong phòng mà học thì phí phạm. Nếu các anh chị đồng ý, tôi sẽ xin thầy giám học, dẫn cả lớp đi du ngoạn, tìm nơi nào yên tĩnh vừa vui chơi vừa giảng bài, được không? ”

“ Đồng ý ! ” (more…)

Read Full Post »

 

le-hoi-muc-dong-1

Chiều thị trấn Phú Phong

.

Chiều thị trấn Phú Phong

Mặt trời đâu lặn sớm (more…)

Read Full Post »

Tản văn của Huỳnh Kim Bửu

Chaoluon2 (1)

Ở Quy Nhơn bây giờ, mọc dày những quán cháo lươn, miến lươn trên các đường phố. Món này phục vụ ăn sáng cho mọi giới: dân sành ăn, dân “cựu” gốc rạ ra phố chưa quên hương vị đồng quê. Lại không như phở, bún, món cháo lươn bình dân (10. 000đ / bát ngon miệng, chưa có bánh tráng).

(more…)

Read Full Post »

Tạp văn của Huỳnh Kim Bửu

 

Trong các làng quê xưa, người biết chữ thì ít (có tới hơn 90% số dân bị nạn mù chữ) nhưng người ta lại có thú đọc sách – nghe sách, tiếng đọc sách – cuộc nghe sách vẫn thường có ở trong làng. (more…)

Read Full Post »

Bút ký của Huỳnh Kim Bửu

Ít có đâu như An Nhơn, một miền đất nhỏ mà hai lần là kinh đô của hai vương triều và một lần là thủ phủ của một tỉnh. Thành Đồ Bàn là kinh đô của Chiêm Thành, kể từ thời vua Ngô Nhật Hoan ( thế kỷ thứ X) tám thế kỷ sau thành này được đổi tên là thành Hoàng Đế, làm đế kinh của Thái Đức Hoàng đế Nguyễn Nhạc, triều Tây Sơn. (more…)

Read Full Post »

Bút ký của Huỳnh Kim Bửu

Trong các làng quê, nói về tuổi tác, giới tính: có cô thôn nữ, anh trai làng, người quá niên (Quá niên trạc ngoại tứ tuần…Truyện Kiều – Nguyễn Du)… Và còn có ông lão nông nữa.

Ông lão nông là ai? –Hồi xưa, tuổi già đến sớm lắm,  “mười lăm trẻ, năm mươi già không kể” (thơ Nguyễn Công Trứ) cho nên lão nông thời đó, được kể từ tuổi 50 trở lên. Bây giờ, bước vào lão nông, chắc cũng phải tuổi từ 60.

Lão nông có một quãng đời trực tiếp làm nông, làm nông dân, tức ông đã từng cầm cày, cầm cuốc, lên bờ xuống ruộng với bao nông dân khác. Nhưng nay thì ông đã ở tuổi cao niên rồi và được mọi người gọi là lão nông, nhiều khi còn được gọi là lão nông tri điền.

Bây giờ, ông lão nông đang sống cuộc đời “hậu nông dân” của mình như thế nào? Việc của nông dân là việc ruộng vườn, hết ruộng tới vườn. Từ nay, ông lão nông về với mảnh vườn của nhà mình, giao lại việc ruộng cho con cái, thường là anh trưởng nam. Người ta bảo có thú “điền viên”. Đúng là có cái thú ấy, và cái thú ấy dành cho mọi người, nhưng hình như giới quan lại, công chức về hưu là được hưởng nhiều nhất. Nguyễn Bỉnh Khiêm viết: “Một mai, một cuốc, một cần câu / Thong thả nào ai vui thú nào” , khi ông đã từ bỏ “chốn lao xao”, tìm về “nơi vắng vẻ”.

Không phải lão nông không làm ruộng nữa. Ông vẫn có làm ruộng đấy chứ, nhưng làm những việc nhẹ nhàng thôi. Thường thì sớm ngày vác cuốc thăm đồng. Người ta vẫn thấy, có những ông lão nông đi đâu cũng vác cuốc trên vai, thậm chí đi ăn giỗ nhà bà con, nhà từ đường tộc họ gần, xa. Tới nơi rồi, dựng cuốc ngoài giếng, rửa chân, bước thẳng vào nhà trên. Đó là do thói quen của lão nông. Ai đã xem tuồng hát  Lòng già yêu nước (Còn gọi là Ngọn lửa Hồng Sơn), còn nhớ: Ông Tạ Ngọc Lân (cha) đến dinh cơ ông quan to Tạ Kim Hùng (con), được Tạ Kim Hùng mời ngồi ghế, ông ngồi bệt xuống đất. Tạ Kim Hùng hỏi, tại sao? Ông trả lời: – “Tôi quê mùa, hằng ngày đi cày ruộng, ngồi đất đã quen”. Đó là thái độ cứng cỏi của ông cha nông dân trung nghĩa đang tìm cách trừng trị thằng con bất hiếu, bất trung, theo giặc, làm điều phản nước hại dân. Nhờ có cây cuốc “thường trực” ở trên vai, cho nên ông lão nông đi đâu, cũng “kết hợp” thăm được đám ruộng: Gặp khô thì tháo nước vào, gặp úng xả nước ra; gặp lỗ mội thì dện; đi đường mỏi, sẵn cán cuốc ngồi lên nghỉ chân, cũng tiện…

Mặc dù, các lão nông không còn cày ruộng, nhưng “chủ trương” việc làm ruộng của gia đình, làng xóm đều từ lão nông mà ra. Năm có hai vụ mùa tháng ba và tháng mười. Trước khi vào vụ, hương chức làng thường mời các lão nông đến để “trưng cầu ý kiến”, hỏi các cụ xem, thời tiết sắp tới ra sao? (thời xưa chưa có cơ quan dự báo thời tiết như bây giờ), ngâm giống, gieo mạ lúc nào? giống lúa nào được, giống lúa nào không chắc ăn? ruộng chân cao, ruộng chân thấp, mỗi ruộng cấy giống gì cho hợp? … Thường thì các cụ cho phép đến đâu, làng xóm y án làm theo đến đó, bằng không cho phép thì dẫu làng có muốn, cũng đành thôi.

Ba năm có một lần, làng tổ chức quân cấp ruộng cho toàn dân. Việc quân cấp ruộng cũng được mời lão nông đến tham gia. Lão nông thuộc vanh vách, nằm lòng từng đám ruộng một ở trong làng, nhờ đó giúp cho làng việc lập sổ bộ, vẽ sơ đồ, lên phương án quân cấp sao cho công bằng, dân không có chỗ kiện thưa lôi thôi. Có nhiều trường hợp lão nông ngăn chận được Lý trưởng, Hương bộ có bụng tham, để ruộng ra ngoài sổ bộ mà thủ lợi riêng.

Hồi còn sức trai, ông Sáu Ngật cày ruộng, nuôi trâu, đẽo cày, giao du với nông dân, hút kèn thuốc lá, ngồi đâu nói chuyện ruộng sâu trâu nái, cái đập, con mương đó …Nay, bước sang tuổi lão nông, vẫn tính nào tật nấy, như người ngứa nghề, ít khi ông chịu ở nhà, nhỡ hôm nào kẹt quá, không ra đồng được là ông đứng ngồi không yên. Ông vẫn bảo, ra đồng sẽ có khối việc làm: Bước xuống ruộng đỡ cây lúa ngã, gặp cái thằng biết ăn mà không biết cày ruộng, thì chỉ nó vài đường cày, cho nó khôn… Bằng không làm gì thì ngắm đồng cho thỏa mắt, cũng hay. Nhiều hôm, chiều rồi, gió nồm rộ, hay ngọn gió nam non, cơn gió bấc lạnh lùng thổi, khiến cánh đồng lúa xanh lên tiếng rì rào và từng đợt sóng lúa nổi lên. Trên sóng lúa, hình bóng ông Sáu Ngật với nón lá trên đầu, cái cuốc trên vai trôi dập dềnh, dập dềnh…

Hồi tôi ở làng, cách nay cũng chừng 40 năm, vậy mà tôi còn nhớ như in các lão nông ở trong làng. Nước lụt trắng đồng, có mấy lão nông đi đầu, chống sõng cứu người, cứu lúa; làng hát bội có mấy lão nông trực tiếp chỉ huy, sai bảo đám nhân công cất sân khấu làm tự nguyện cúng Thần; đám ma có lão nông cầm sanh gõ cắc cắc… để điều khiển dân phu đòn; hát hò giã gạo đêm trăng, hò kéo gỗ trên sông, có lão nông chủ trò…

Nhiều lão nông là ông lão trồng hoa, dành bàn tay để chăm chút khóm hoa, chậu cây cảnh, mấy chùm hoa trước giậu, dăm gốc cây ăn quả… Như vậy là hằng ngày lão nông có thú vui uống trà ướp hoa tươi, có quả ngọt ngon cho con cháu ăn. Rồi có một ngày, lão nông sẽ thấy mình phơ phơ đầu bạc, mắt mờ chân yếu, không làm gì nổi nữa. Bây giờ, ông ở nhà trông cháu, kể chuyện đời xưa cho con cháu xúm nghe. Mỗi chuyện đời xưa của ông đều dạy việc luân thường đạo lý, ở ăn có nghĩa có nhân, có ích cho đời…Ngày nay, trong các làng nghề trồng hoa Xuân (đã được công nhận) của huyện An Nhơn, vẫn nổi tiếng những lão nghệ nhân trồng hoa Hai Ngữ, Ba Sự, Mười Khoa, Sáu Long, Phàng Chiểu, Kim Vân… đều ở tuổi 60 – 70 hoặc mới về hưu, còn mạnh khỏe. Họ đang sống đời sôi nổi và đang cùng nhau làm nên danh tiếng của một vùng đất.

Người có học thức ở trong làng thì khéo tiếp nhân xử vật, còn lão nông thì giỏi ruộng vườn, cho nên cả hai đều được nể trọng. Hồi xưa, làng tôi có lệ làm lễ hạ điền hằng năm, vào dịp sau Tết Âm lịch. Làng vẫn mời ông lão nông cao tuổi nhất trong làng, đứng chủ lễ và bước xuống ruộng, mở đường cày đầu tiên để bắt đầu một năm canh tác mà người ta tin rằng nhờ phúc đức của vị lão nông sẽ được mưa thuận gió hòa, phong đăng hòa cốc.

Read Full Post »

Tản văn của Huỳnh Kim Bửu

Bây giờ, ngồi với tuổi bóng xế của mình, người ta hay nhớ quê, nhớ cha nhớ mẹ nay đã không còn, nhớ những kỷ niệm ngày xưa…Tôi cũng vậy, và tôi cũng hay nhớ những mảnh vườn cũ – nơi tôi tin rằng sẽ còn lưu giữ mãi mãi những kỷ niệm thời tuổi thơ của tôi.

(more…)

Read Full Post »

Thơ Huỳnh Kim Bửu

Ta về ngồi lại với xưa

Mở trang cổ tích gặp tờ thư xanh (more…)

Read Full Post »

Tản văn của Huỳnh Kim Bửu

Chúng ta đã ăn phở tái, bún giò, miến ngan… từ xa xưa (từ thuở Hà Nội – băm sáu phố phường, Huế – thần kinh) nhưng ăn mì ăn liền thì mới chừng mấy chục năm nay.

Mì ăn liền là một thực phẩm khô, chiên trước với dầu cọ, vô gói (từ 60 –  80g), ăn liền sau 3 –  5 phút dội nước sôi lên. Mì ăn liền ra đời muộn mà có sức lan tỏa, “chiếm lĩnh thị trường” mạnh, nhanh, đến sớm rộng khắp. Có thể nói, ngày nay gói mì ăn liền đã đến với từng nhà, kết bạn với từng người. Có thế, nước ta mới mỗi năm sản xuất tới 6 tỉ gói mì với đủ các thương hiệu (Hảo Hảo, Miliket, 3 Miền, Tiến Vua, Bò Rau Thơm, Gấu Đỏ… Mì lâu đời nhất là mì Colusa gói giấy vẫn còn được ưa chuộng). Có những con số của năm 2005, tôi đọc được trên báo: Trung Quốc, ăn nhiều mì tôm nhất thế giới với 44, 3 tỉ gói / năm 2005, Indonesia thứ hai với 12, 4 tỉ gói / năm 2005, Nhật thứ ba – 5, 4 tỉ gói / năm 2005. Tiêu thụ mì ăn liền nhiều nhất, tính theo đầu người: Hàn Quốc 69 gói / người / năm,  Indonesia 55 gói / người / năm, Nhật 42 gói / người /  năm.

Nó nhờ vào đâu vậy?

– Chắc trước hết, nó nhờ vào cái giá rẻ: Trừ gói mì 5000đ – 6000đ dành cho người chuộng món ngon, gói mì phổ thông ba bốn ngàn đồng / gói, rẻ hơn cả đĩa bánh xèo rải rau giá búp, chén bánh bèo rắc tôm bột của mấy bà bán dạo xóm cho người nhàn rỗi vừa ngủ giấc trưa dậy. Đó là nói thời giá bữa nay, chứ hồi cách đây vài năm, mì ăn liền chỉ 500đ / gói thôi. Ít thấy có món vừa rẻ vừa ngon, theo nghĩa “tiền nào của nấy”, như gói mì. Ăn phở bò, bún giò thì “dội” lắm, lâu lâu mới dám cải thiện một bữa. Ăn bún cá, bún riêu cua giá cũng gấp rưỡi, gấp đôi gói mì tôm, mì thịt bằm ăn liền. Ăn bánh xèo, bánh bèo, ổ bánh mì cặp thịt “bình dân” đấy, nhưng bị thiếu nước, khô khan, khó nuốt, nhất là đối với người già ăn ít, có tật ăn hay mắc nghẹn. Sau cùng, nhiều người đã chọn “giải pháp” ăn gói mì, vừa rẻ vừa có cả cái lẫn nước, dễ nuốt trôi. Ăn xong tô mì tôm (cách gọi chung cho các loại mì), anh công nhân, chị cán bộ, bác nông dân yên tâm rằng mình đã nạp đủ “năng lượng” cho một buổi mai làm việc, từ sáng tới trưa. Nói, nhờ giá rẻ mà mì ăn liền tiêu thụ mạnh, “chiếm lĩnh thị trường” nhanh, chưa chắc trúng! Vì có những nước giàu vẫn ăn nhiều mì tôm kia mà.

– Ưu điểm thứ hai của gói mì tôm dễ thấy, là tiện lợi. Trước hết, tiện cho việc để dành, để trên bàn ăn, đậy rổ lại, hoặc cất trong chạn là tốt, miễn sao đừng để chú chuột đục khoét. Vì chuột mà đục khoét gói mì, chẳng khác gì ông Tám Khừng quê tôi, gặp cỗ giỗ được cho ngồi vào mâm. Mà cũng tiện cho việc chế biến, người bận rộn công việc, với gói mì tôm và chút nước sôi trong phích là có ngay bữa ăn, ăn lẹ. Bởi khỏi phải chế biến lâu lắc, ăn lẹ để còn công việc, gói mì tôm mới được đặt tên là “mì ăn liền” (nhưng cái tên này  người ta ít gọi hơn cái tên mì tôm đã quen miệng, quen miệng đến mức gói mì chay cũng bị gọi là mì tôm chay).

Trong đời, tôi đã gặp nhiều cảnh ăn mì ăn liền cảm động lắm. Cái hôm máy bay trực thăng sà xuống tới đọt tre, thả hàng cứu trợ xuống “ốc đảo” quê tôi (vùng đang bị thiên tai lũ lụt bao vây), tức thì từ trong các nhà ngập lũ sâu, bà con đã ào ra, bơi theo dòng nước cuộn chảy, vớt những thùng mì tôm bọc trong giấy nhựa. Và từ bữa đó, bà con làng tôi đã ăn mì tôm cầm hơi, suốt những ngày bão lũ gian nan, cơ cực. Khối cô cậu sinh viên, học sinh nghèo trọ học xa gia đình, vừa mua sách học vừa “kế hoạch” túi tiền, mua chục gói mì tôm để dành “ăn dặm”, vì nhiều bữa phải mì tôm thay canh, mì tôm bữa sáng đến trường, bữa tối thức khuya học bài. Khối anh chị công nhân nhà máy, ông bà cán bộ hưu trí (từng làm nhân viên cho lãnh đạo), đến kỳ lĩnh lương, liền ưu tiên dắt nhau ra siêu thị, mua một thùng mì tôm ôm về, bảo đã làm xong “kế hoạch tiền lương”. Một bà chủ quán trong khu dân cư nghèo đã có lần kể cho tôi nghe, những ngày giáp Tết, quán bà bán mì tôm chạy lắm, nhà nào cũng mua mì tôm ăn Tết, có nhà mua tới mấy thùng. Hình như đoán trước được, tôi sẽ có câu hỏi, tại sao, bà giải thích luôn: “Bởi tại cái gu của dân vùng này và cũng vì, bà con sợ ngày Tết quán xá nghỉ, mà lo trước còn hơn”.

Không ít người phong lưu, thích ăn ngon, phải bữa mì tôm, người ta đã “gia công” cho gói mì: cho thêm thịt ướp, chả giò, nhánh rau thơm, tiêu bột, củ hành ngâm chua, dội nước lèo nấu xương heo, sụn bò… Thế là thực khách có được một tô mì tôm hảo hảo, khác xa cái hương vị ban đầu của nó. Hương vị thuở ban đầu của tô mì ăn liền, nếu là mì tôm thì có chút hương vị tôm, mì thịt bằm chút hương vị thịt, mì bò bip – tết tí xíu hương vị thịt bò. Ngoài cái hương vị thịt hay tôm, theo tên gọi của gói mì, còn có cái hương vị rau thơm, cà rốt (hoặc khoai tây, đậu Hà Lan), muối, bột ngọt có trong bì gia vị của mỗi gói mì… Mì chay có hương vị nhiều loại rau: ngò thơm, cà rốt, khoai tây… và mùi thơm nấm (thay cho hương vị thịt, tôm, cua).

Đem mì tôm so sánh với bánh bèo, bánh xèo mới thấy cái “bất công” trong sự “đối đãi” của con người. Gói mì tôm (ba, bốn ngàn đồng) lại được sản xuất trong nhà máy công nghệ với dây chuyền sản xuất tiên tiến, có thương hiệu mĩ miều, bao bì láng bóng rực rỡ, được đóng thùng lịch sự, sang trọng; trong khi đó cái bánh chưn, chồng bánh xèo, đĩa bánh bèo…(cùng giá) lại chế biến trên lò than, bếp củi lọ lem, tới khi có cái bánh rồi, cũng chẳng gì hơn, vì bị thảy ra mâm, ra mẹt. May mà gặp người ăn tinh đời, có bụng tốt còn biết, đây là: “Món ăn dân dã”… để mà thương nhau.

Mì ăn liền chắc không bị cuộc cạnh tranh ráo riết, mặc dù ngày nay có xuất hiện gói phở ăn liền, miến ăn liền, cháo ăn liền… Tôi nghĩ, những gói sau này chỉ làm đa dạng, phong phú thêm cho gói mì ăn liền đang phục vụ cuộc sống hối hả thời nay.

Thử hỏi, ở trong nước mình, món ăn nào có tính phổ cập, “phủ sóng” toàn miền, toàn cõi, toàn quốc? Phở chăng? -Nhiều thị trấn không có quán phở tái, nạm. Bún bò giò heo chăng? –Cũng không. Cháo lòng, bánh hỏi thuộc “gu” của dân Bình Định, nhưng nơi khác thì cũng chẳng có “biệt nhãn”gì. Cao lầu vẫn “cố thủ” ở thành phố Hội An – Quảng Nam, Don “an phận thủ thường” ở thành phố Quảng Ngãi… Thưa, chỉ có gói mì ăn liền.

H. K. B

Read Full Post »

Huỳnh Kim Bửu

Tôi xa quê đã lâu, ăn Tết quê người đã bao nhiêu cái Tết, nhưng không quên được Tết quê nhà thuở tôi còn thơ.
Mới đầu tháng Chạp, các chợ Gò Chàm, Đập Đá, Cảnh Hàng…đã nhộn nhịp cảnh mua bán những mặt hàng ngày Tết: Vải vóc, quần áo, gạo nếp, dụng cụ gia đình… Từ ngày 22 trở đi, chợ còn nhóm đêm nữa. Tôi mừng lắm mỗi khi được mẹ dẫn đi chợ Tết. Thế nào tôi cũng vòi vĩnh mẹ mua cho được, khi thì con gà cồ đất, khi thì anh giã gạo bằng gỗ, cái trống rung bịt giấy bóng…Đem về nhà, tôi chơi với những đồ chơi ấy không chán, tôi thúc dậy sớm để gáy con gà cồ đất lúc sáng sớm, rồi đi học. Và còn đem đi khoe với lũ đồng trang lứa trong xóm.
Mấy ngày trước Tết, nhà nào cũng lo trang trí nhà cửa, lau chùi bàn thờ gia tiên, tham gia tổng vệ sinh đường làng ngõ xóm. Các cái hàng rào xanh được cắt ngay ngắn. Nhiều nhà trồng trụ đèn trái ấu, cây nêu cao ở trước sân, dán câu đối Tết ở hai trụ ngõ. Các chợ chỉ bán hoa giấy ngũ sắc cắt thủ công, dán vào cọng thép hoặc thanh tre chuốt mảnh tạo thành cành huệ, cành cúc, cành mai…được nhiều người mua, bảo là về chơi cho bền. Nhiều nhà trồng cúc, thược dược, vạn thọ…hoa nở khoe sắc khoe hương như một báo hiệu Xuân sang,
Mỗi năm, mỗi Tết qua đi, tuổi tôi mỗi lớn khôn. Mỗi lần sắp đến Tết, tôi thấy người ta ra chợ, mua những tấm bức đại tự viết chữ Phước hoặc Thọ hoặc chữ Thái Sơn hoặc Càn Khôn về treo trên bàn thờ ông bà. Các thầy đồ ngồi viết bức thờ khăn đen, áo dài đĩnh đạc, chữ viết như “Phượng múa rồng bay”. Mà khách mua cũng là những người đàn ông thành tâm, lịch sự, bà ba trắng guốc mộc, thưa gởi rất lễ phép với thầy đồ.
Không ít nhà treo tranh Tết mua ở các hiệu tàu trên Bình Định, Đập Đá… Tranh Đông Hồ Húng dừa, Đám cưới chuột, Đàn gà mẹ con… kén người mua. Người ta mua tranh ”Tứ bình” in mộc bản Mai – Lan – Cúc – Trúc, Bát Tiên, Mục Kiền Liên, Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Quốc Toản…Mẹ đi chợ Phú Đa mua về một bộ tranh Phũ Đỗng Thiên Vương đuổi giặc An treo ở phòng khách.  Đi học về thấy tranh, tôi và thằng Út dán mắt vào xem. Thấy thế, đến tối mẹ giảng sự tích Tháng Gióng cho nghe, để tôi nhớ suốt dời.
Tôi cảm thấy hạnh phúc gia đình ở đêm 30 Tết: Gia đình tôi đoàn tụ và cả nhà thức để đón giao thừa. Ba làm cai lục lộ, quanh năm đi làm xa nhà,  chị Hai buôn bán với các cô gái hái chè ở đồn điền chè Bàu Cạn, đến chiều 30 Tết mới lục tục về để cho mẹ trông đợi. Nhà trên, Ba đã thắp đèn nến sáng choang và báo cho chúng tôi giao thừa đã đến. Lòng tôi bồi hồi cảm động vì thấy bao điều thiêng liêng ở phút giây này. Gương mặt của mọi người trong nhà đều tươi vui. Mẹ đi thăm nồi bánh tét còn chị Hai thì ngồi tỉa tót những bánh hoa qủa: Mãn cầu, chanh, ớt…bằng bột nếp nhuộm màu, trông giống như thật. Sáng Mồng một, mẹ dặn mọi người phải tử tế với nhau để cho cả năm gặp toàn chuyện vui. Tôi và thằng Ut, nhỏ nhất nhà, nghe mẹ nói thế, mừng lắm. Chị Hai dẫn tôi và thằng Ut Nhàn ra đường làng, chị bảo là đi xuất hành. Có đông người đi xuất hành như chị em chúng tôi. “Chi cha chi chát khua giày dép” (TTX) và lược là phấn son làm rộn lên âm thanh và sắc màu con đường làng sáng Mồng Một Tết.
Mấy ngày Tết, các đình làng ở trong vùng đều có tổ chức các trò chơi: Đánh bài chòi, đánh đu, đập ấm, bịt mắt bắt dê…Người trong làng ra xem. Chàng trai cô gái làng nọ sang làng kia xem như thể vừa du xuân vừa giao duyên để sau đó đã có bao ”chuyện tình”:
Trai Thuận Thái nhớ gái Kim Tài
Trách con sông Gò Chàm nó chảy, rẽ hai chúng mình.
(Ca dao)
Đình Trung Lý, đình Tân Dân, chùa Ông trong thành Bình Định, Tết nào cũng xổ cổ nhân. Cổ nhân là một trò chơi đòi hỏi kiến thức, là dịp cho mấy thầy đồ ngồi sẵn hè phố bàn ”thai” ăn tiền. Đánh cờ người thì hay tổ chức ở Cảnh Hàng, Háo Lễ… Những nhà có học thức: Thư sinh, hàn sĩ, thầy đồ, tú, cử…thường lấy việc ”khai bút” đầu xuân làm thú tao nhã theo tinh thần:
Chẳng hay ho cũng đỗ Tú tài
Ngày Tết đến cũng một vài câu đối  (Trần Tế Xương)
Đến đêm Rằm tháng Giêng thì mọi người tụ hôi về nhà ông Cử Nhì ở Thuận Thái để ”trình làng” những bài thơ khai bút đó. Thật là một cuộc uống rượu ngâm thơ dưới vầng trăng Nguyên tiêu đầy thi hứng.
Từ mồng Năm trở đi diễn ra nhiều lễ hội ở các đình chùa: Vía Chùa Ông Bình Định 12, chùa Bà Liêm Lợi 17, Tổ nghề dệt Chùa Kén – Phương Danh 21, Thành Hoàng của các làng thì lần lượt mỗi làng một ngày…Các lễ hội có cúng tế, hát bội, náo nức lắm, người xem đến mỏi mắt mà không chán. Đặc biệt, lễ hội Đống Đa, kỷ niệm trận đại thắng của anh hùng dân tộc Quang Trung, ngày mồng Năm Tết, là lớn nhất. Người đi trẩy hội, từ  các nơi đổ về Điện Tây Sơn (Nay là Bảo tàng Vua Quang Trung) như nước chảy.
Đã gọi là ăn Tết, cho nên Tết phải có ăn:
Chẳng phong lưu cũng ba ngày Tết
Keo kiết như ai cũng rượu chè (Trần Tế Xương)
Mấy ngày Tết, khi thì ba mẹ dẫn, khi anh chị cho đi theo, tôi được đi thăm Xuân, mừng tuổi, chúc Tết nhiều nhà trong dòng họ, bà con. Đi đến đâu, tôi cũng được tiền mừng tuổi, ăn bánh trái. Người lớn nói với nhau những câu chúc tụng, ăn uống nhiều rượu thịt.Trong làng, có nhà Phú ông và mấy người Chức việc có phúc lộc, được tá điền, thuộc cấp đi Tết gạo nếp, gà vịt, bánh trái, trà rượu…để chật nhà, ăn Tết to lắm. Tôi nhớ món ngon ngày Tết của quê tôi: nem chua, chả lụa, thịt thưng, thịt bì…Thứ nhất, nhớ bánh tét của mẹ làm. Mới đến ngày đưa ông Táo về Trời, 23 tháng Chạp, mẹ đã lo chọn nếp ngon, đậu xanh đều hột, đặt phần thịt heo đậu tay… Mẹ bảo đâu đó cho sẵn  để đến sáng ngày 30 dậy sơm  gói bánh và nấu cho kịp đến giao thừa thì bánh chín. Bánh tét của mẹ nấu chín rồi, lột lớp lá chuối thấy cây bánh xanh, tét ra mặt miếng bánh mịn, nhân bánh ở giữa, phảng phất mùi thơm ngon. Ăn với thịt bì hay thịt heo phay, dưa kiệu …đều ngon. Có lần ngồi ăn bánh tét với cả nhà, anh Ba đố: Trong trắng ngoài xanh trỉa đỗ trồng hành, thả heo vô chạy. Đố là cái gì? Tôi nghĩ một thoáng, đáp: -Bánh tét. Anh Ba khen tôi thông minh cho tôi vui, chớ câu đố đó dễ ợt. Tôi nhớ mâm cơm ngày Tết, mẹ dọn lên bữa nào cũng tinh tươm: Đủ thứ thịt (kho tàu,thưng, bì) bánh tráng, dưa kiệu, dưa leo, nhiều bữa có nem chả…Ba tôi vừa ăn vừa uống. Ba tôi bảo một năm được uống rượu Bàu Đá mấy ngày Tết, ở quê người nhớ bao món ngon của quê hương.

H.K.B.

Read Full Post »

Older Posts »