Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘Bình Định’

Hồ Ngạc Ngữ

Chợ nón Gò Găng

Ở quê mình, bẻ đôi bánh tráng
Cầm hai tay đưa khỏi đỉnh đầu
Sống cái nghĩa, cái tình năm tháng
Từ củ mì, hạt gạo thương nhau
. (more…)

Read Full Post »

Ở huyện Vân Canh, Tuy Phước (Bình Định) có một nghề mưu sinh không giống ai: săn kiến. Không kể nắng hay mưa, ngày nào họ cũng băng rừng, bạt núi từ sáng đến chiều.

Lang thang trong những cánh rừng, những nơi cây có lá non và to kiến thường làm tổ

(more…)

Read Full Post »

MANG VIÊN LONG

         Điều tôi muốn nói trước tiên, có lẽ – là cái tên của ông. Ba Phải. Ông tên “Ba Phải” vì theo thứ tự trong gia đình, ông là người con thứ ba. Tên trong khai sinh là Lê  Văn Phải. Người ta thường nói gọn là “Ba Phải”. 

          Nếu hiểu theo nghĩa “ba phải” là ai nói gì cũng gật đầu “phải, phải, phải’ – ba lần (hay nhiều lần) cho yên thân thì hoàn toàn sai với bản tính con người của ông ! Một sự lầm lẫn rất lớn về tên gọi ! Ở con người của Ba Phải thì ngược lại. Hoàn toàn trái ngược một trăm phần trăm như đen với trắng – nước với lửa ! . Nghĩa là không bao giờ ông chịu nghe ai, không gật đầu với ai – và chỉ làm theo ý mình.

          Người đầu tiên biết rõ cá tính của ông là bà Liễn – vợ ông. Về làm vợ ông đã bao năm rồi, tính con đã năm đứa (ba gái, hai trai) nhưng hiếm khi ông gật đầu với bà lần nào ! Điều này làm bà đành cam chịu buồn khổ, riết rồi quen – rồi biến thành một cái bóng lặng lẽ bên đời ông tự bao giờ…

          Người ta ít khi thấy bà Liễn đi đâu xa – thăm bà con, hay bạn bè, xóm giềng. Và bà con, bạn bè, chòm xóm của bà cũng chẳng có ai lui tới. Bà về làm vợ ông, chui vào nhà ông – như cắt đứt mọi liên hệ gia đình, bà con thân thuộc, bạn bè cũ. Dường như bà Liễn chẳng còn nhớ gì đến dĩ vãng, đến kỷ niệm của một thời con gái tuổi trẻ hồn nhiên, thơ mộng? Nếu có còn nhớ chăng, thì chỉ ẩn hiện trong khoảnh khắt lặng im ray rức một mình.

          Hằng ngày, ông Ba Phải “phát tiền” cho bà đi chợ. Dặn mua món gì, bao nhiêu – tùy theo ông quyết định. Số tiền còn thừa, bà Liễn đưa lại cho ông ngay sau khi đi chợ về- dầu chỉ những đồng tiền lẻ ! Nếu có khi nào bà thử đề nghị ông mua thêm món này, sắm thêm cái nọ – ông lập tức nhăn mặt : “xì xì… như vậy được rồi !” – rồi quày quả bỏ đi một mạch.

          Có một lần bà Liễn thử nhắc:

          -Ngày mai là đến ngày giỗ Mẹ, sao ông không nhớ à ?

          Ông Ba Phải nhăm mặt – khuôn mặt thon dài thêm rắn rỏi, nhăn nhúm : “Xì xì … như vậy được rồi, cúng giỗ làm gì cho thêm chuyện ?”.

          Đã quày quả quay đi – ông chợt ngóai lại – cao giọng: “Bà nên nhớ rõ, chủ trương của tôi là “ba không” : không cúng giỗ, không cho ai mượn tiền, không đi chơi với ai!”. Đó là “bài học” đầu tiên mà bà Liễn được biết khi về sống chung với ông !

          Tuy không bao giờ cúng giỗ ông bà, cha mẹ – nhưng giữa nhà ông được thiết bày một bàn thờ sang trọng : Cặp lư đồng đen to tướng, bát hương sành cổ Trung Quốc, cặp lọ hoa cao cổ men xanh, cặp liễn đối cẩn xà cừ sáng bóng, chiếc bàn cổ khắc chạm tứ linh có từ thời chúa Nguyễn… Hai bên bàn thờ là hai chiếc tủ gỗ hương sắp đầy những quý vật cổ như bình rượu, bình trà, chén dĩa, lọ hoa, lư trầm, tượng Phật, tứ linh, đũa ngà… Những món đồ quý hiếm ấy do từ đời ông bà cha mẹ ông lưu lại cũng có – mà do nghề “Cầm Đồ” của ông thu vào dần dần cũng có. Khánh lâm vào cảnh túng bần, hay bị ốm đau lâu ngày- đem đồ gia bảo đi “cầm thế” cho ông , mong nhận được ít tiền qua cơn ngặt nghèo. Hết hạn cầm thế mà vẫn chưa có tiền chuộc lại, đành phải bán đứt cho ông với giá bèo ! Khách bấm bụng mà nhận tiền, chỉ kịp liếc nhìn lần cuối món gia bảo mấy đời đang nằm lặng lẽ trong tủ ông!

          Ông Ba Phải săm soi, ngắm nghía những món đồ cổ với lòng tự hào căng cứng. Ông mê đồ cổ như một cách mê vàng bạc hơn là mê cái đẹp của nghệ thuật, bởi vì – người ta chỉ nghe ông Ba Phải khoe “món này mấy lượng vàng, món kia cả trăm triệu” chứ chưa hề nghe ông nói tới “cái đẹp” nào khác! Từng món đồ cổ chứa đầy trong hai chiếc tủ gỗ hương lớn (và trên các ngăn gỗ dọc vách tường phòng khách) như hiện rõ lòng tham và lòng tự mãn ngày càng nhiều của ông! Và ông Ba Phải trân quý chúng còn hơn cả vợ con – bởi chưa ai nghe ông nhắc nhở đến vợ con dù chỉ là một lời giới thiệu ngắn ngủi – trong lúc ông có thể nói cả buổi về chúng…

          Trong chủ trương “ba không” của ông Ba Phải, bà Liễn không bằng lòng hết hai điều: không cúng giỗ, không cho ai mượn tiền. Từ lúc nghe ông cao giọng nói đến “chủ trương ba không” – bà Liễn cảm thấy ông hoàn toàn khác với sự tưởng nghĩ ban đầu khi vừa chân ướt chân ráo bước vào gia đình ông. Một con người không có chút tưởng nhớ gì đến ông bà, cha mẹ – thì liệu có tưởng nghĩ tới ai không? Thời con gái, bà đã yêu trộm nhớ thầm ông giáo làng trên xóm Đình – hai người cũng có thư qua lại đôi lần – thì ông Ba Phải xuất hiện. Cuộc tình thầm kín đành khép lại, vì cha mẹ bà đều nghĩ đến sự giàu có tiếng tăm của gia đình Ba Phải – mong cho con sẽ được sung sướng hơn người. Có ai học được chữ “ngờ” luôn luôn rình rập quanh đời để xô ta vào nơi bất hạnh, khốn cùng? Thân gái mười hai bến nước, bà Liễn đã bị trôi dạt vào bến nước khô cạn ngầu đục như một định số khắc nghiệt.

          Cái “không” thứ hai, điều này quả thật đau lòng – mà người đầu tiên ngậm đắng nuốt cay là bà Liễn. Cậu em bà đến báo tin mẹ đau nặng, đang cấp cứu ở bệnh viện – nhờ bà  hỏi vay ông Ba Phải một trăm ngàn nộp viện phí và lo thuốc thang ban đầu – bà Liễn đáp lơ lửng: “Em thử hỏi ổng coi – chị không có lấy một xu dính túi mà!”.

          -Tình nghĩa vợ chồng, chị nói giúp em – cậu em tha thiết đề nghị.

          -Tình nghĩa gì đâu ? Giọng bà lạt hẳn, chị chưa bao giờ…

          Bà bỏ lửng câu nói rồi sụt sùi khóc. “Tình nghĩa gì đâu, chị chưa bao giờ cảm thấy điều ấy” – Có lẽ đây là lần đầu tiên bà Liễn biểu lộ tình cảm của mình trước người khác. Cái khổ đau ẩn chứa thầm lặng bấy lâu đè nặng lên tâm hồn bà – khiến tiếng khóc cứ nấc lên, nấc lên từng chặp, nghẹn ngào! Tiếng khóc ấm ức ấy dường như đã làm cho cậu em lâu ngày gặp chị hiểu rõ hơn cảnh đời hiu hắt của chị từ ngày xa nhau…

          Cậu em thờ thẫn rời chị, đi dần lên gian phòng khách…

          Ông  Ba Phải đang say sưa đọc lại một đoạn văn của Trần Trọng Kim mà ông đã học thuộc không biết từ bao giờ – phát ra như một cái máy thu thanh cũ: “Khổng Phu Tử ngắm cảnh tượng của tạo hóa mà xét việc cổ kim; đạt được cái lẽ biến hóa của trời đất. Ngài muốn người ta theo cái đạo ấy mà hành động, khiến cho nhân sự và thiên lý cùng thích hợp với nhau theo đạo thái hòa trong vũ trụ. Ngài tin rằng người ta sinh ra đã bẩm thụ cái lý khí của trời đất…”.

          Người bạn ngồi đối diện ông, đôi mắt mở to, chăm chú nghe ông như một nhà hiền triết… Giọng ông Ba Phải lên cao, xuống thấp từng đoạn; hai tay huơ lên trước mặt – thay đổi thế ngồi liên tục nhấp nhổm như đang ngồi trên lửa : “… Ngài tin rằng, người ta sinh ra đã bẩm thụ cái lý khí của trời đất, tất là cùng với trời đất có thể tương cảm tương ứng với nhau được…”. Có những đoạn văn dài, ông đọc liền hơi – có khi mười lăm, hai mươi phút ; khách ngồi cứ trơ ra như tượng không thể làm gì khác!

          Ngoài cái “mê đồ cổ” ông Ba Phải còn có cái “mê văn chương chữ nghĩa” nữa. Khách đến nhà, dù thân hay sơ – có việc hay nhàn rỗi – ông Ba Phải sau khi trầm trồ giới thiệu từng món đồ cổ, là đọc văn thơ cho khách nghe. Có vài ông bạn nối khố công tử lỡ vận thất nghiệp ngày nào cũng đến ngồi ở chiếc ghế salon nơi phòng khách để được uống trà – dù phải nghe ông đọc đi đọc lại mấy đoạn thơ Kiều, Chinh Phụ Ngâm hay các đoạn văn nghị luận của Trần Trọng Kim, Phạm Quỳnh, Phan Khôi… đến lần thứ bao nhiêu cũng gật gù tán thưởng. Cái “mê văn thơ triết lý” của ông Ba Phải nó cũng giống cái “mê đồ cổ” vậy: Một đằng thì khoe giàu sang, một đằng thì khoe kiến thức. Chữ “Phú” sinh chữ “Quí” – thói thường người ta ưa chuộng hai chữ ấy để mưu cầu sự trọng vọng, nể nang! Nhưng “Phú, Quí” để mà làm gì khi chính họ đã trở thành một cỗ máy hoen rỉ hay một cái kho chứa mục nát ?

          Trong nhà ông Ba Phải có đủ mọi thứ, nhưng không sử dụng bao giờ. Chiếc xe Honda được đắp mền ở góc phòng. Chiếc tủ lạnh mới còn bao lớp nylon . Chiếc máy khâu Singer không ai dám mở tấm vải che ra  dầu vợ và hai cô con gái của ông phải tẩn mẫn cặm cụi may vá bằng tay. Chỉ có chiếc Tivi là thỉnh thoảng được ông bật lên để xem tin tức thời sự hay hát bội vào tối thứ bảy.

          Có một vật mà ông Ba Phải không bao giờ rời nó một giây – đó là xâu chìa khóa to tướng luôn luôn rổn rẻng ở trong tay ông hay nằm im trong túi áo Pyjamas … Đó là vật “bất ly thân” của ông – nó như một bộ phận của cơ thể ông vậy. Vợ và các con ông chưa bao giờ được đặt tay vào xâu chìa khóa này. Hai cậu con trai lang bạt lập nghiệp lây lất ở Saigon lúc kẹt tiền, túng bấn, trở về nhà lăm le nhìn xâu chìa khóa trên tay ông mà ngậm ngùi.

          Có một lần ông bị đau dạ dày, xuất huyết trong, phải chở đi bệnh viện đa khoa tỉnh cấp cứu, nhưng xâu chìa khóa vẫn được cột ở cổ tay ông. Cậu con trai giữa được báo tin, từ Saigon bay về – dùng các chìa khóa cùng loại cạy mở tủ nữ trang, vàng, đá quý… Rủi thay tủ không mở được, mà chìa lại gãy nằm im lìm trong ổ. Gọi thợ khóa đến lấy giúp chìa ra không xong, vì theo lời người thợ, chìa bị cong vẹo trước khi gãy. Cậu con đành vội vã bỏ đi trước ngày ông xuất viện … Ông Ba Phải được trở về nhà, kiểm tra các tủ khóa, phát hiện được chìa gãy – đã nhảy cẩng lên la hét bà Liễn và ba cô con gái như nhà cháy! Khi biết rõ cậu con trai là thủ phạm – ông gầm gừ : “Quân khốn nạn, tao viết giấy từ mày ngay giờ phút này!”.

          Thực ra, dù không có giấy tờ – ông Ba Phải đã “từ bỏ” hai người con trai từ nhiều năm nay rồi!. Hình như ông không hề nghĩ là ông đã có con từ lúc chúng còn nhỏ?. Ông không ngó ngàng gì tới vợ con, gia đình của hai người con là giọt máu của mình đang khốn đốn với nghề may vá, và  lính thú rày đây mai đó khắp bốn vùng… Đến cái đám cưới cho con, ông vẫn im lặng vì sợ tốn kém thì có gì mà ông để mắt tới ngoài những món đồ cổ ? Cả hai cậu con trai đều tự mình tìm vợ, chung sống, sinh con – như kẻ mồ côi lang bạt ! Nhờ gia đình phía vợ thương, đùm bọc – nhưng có gia đình khá giả hiểu biết nào chịu gả bán con gái mà không có được một cái lễ nào – ngay việc thấy mặt ông bà sui cũng không; ngoài các gia đình nghèo khổ nặng lòng cưu mang thương xót?

          Bà Liễn  chết năm bà sáu mươi tám tuổi. Đám chết của bà lặng lẽ như bà đã lặng lẽ có mặt trên cõi đời này sáu mươi tám năm. Có người nói bà Liễn chết vì suy nhược, kiệt sức- chứ không phải bệnh viêm gan. Đến ngày bà chỉ còn nằm bất động thoi thóp thở từng hơi nặng nhọc – ông Ba Phải mới cho gọi y tá đến truyền cho bà một bình sérium với vài loại thuốc bổ rẻ tiền ! Bình thuốc mới vào cơ thể khô đét của bà chỉ một phần ba – thì bà đã tắt thở. Cây đã khô tận gốc rễ, một vài gáo nước thì có thể hy vọng được gì?.

          Hai người con trai lớn của bà dắt díu vợ con về thăm tiễn bà khi bà đã nằm im lìm trong quan tài hai ngày. Bà không thấy được mặt mũi mấy đứa cháu nội; và chúng cũng không hề được nhìn một lần người bà thân yêu – ngoài tấm di ảnh chưng ở bàn thờ … Qua ngày cúng giáp tuần, hai người con trai lại lần lượt lặng lẽ dìu dắt vợ con ra đi !

          Sau ngày bà Liễn mất một năm, ông Ba Phải phải nhập viện vì chứng loét dạ dày tái phát. Lần này, các bác sĩ đều lắc đầu – bảo mang ông về, cho ăn uống, rồi chờ ngày ra đi mà thôi! Bệnh ung thư dạ dày của ông đã vào giai đoạn cuối rồi dầu có cắt bỏ hai phần ba, cũng không kéo dài thêm bao nhiêu.

          Về nằm ở nhà, vài tuần sau, ông lại bị chứng parkinson – tay chân run rẩy , lập cập – không nắm cầm vật gì chắc chắn được.

          Rồi tiếp theo là giọng nói của ông khàn đục, hụt hẫng – nói không thành câu nữa. Ông nằm dán trên chiếc giường hộp rộng – hằng ngày được hai cô con gái lớn thay nhau đổ cháo, sữa, hay nước sâm vào miệng từng muỗng nhỏ…

          Hai cậu con trai phiêu bạt được em gái báo tin, đã trở về kịp gặp lại ông một ngày – trước khi ông không còn thở được nữa ! Ông Ba Phải đã nằm im lìm, bất động, lạnh lẽo như những món đồ cổ quanh ông.

          Việc đầu tiên của năm anh em con ông Ba Phải là phải gắng tìm cho được xâu chìa khóa mà ông đã cất dấu ở nơi nào từ ngày ông ở bệnh viện trở về…


Read Full Post »

Truyện Ngắn

Trần Minh Nguyệt

Máy điện thoại của Diệp báo là có tin nhắm mới, không cần xem cô cũng biết là của Trường. Diệp nghĩ thầm chắc cũng chỉ là lời chúc giống như bao buổi sáng thôi, lời chúc mà không cần đọc tin nhắn, cô cũng có thể đọc được: “ Chúc em một ngày mới an lành, may mắn!”. Diệp không biết câu chúc của anh có linh ứng hay không – nhưng sáng nào không nhận được tin nhắn, hay tin nhắn đến trễ là cô cảm thấy người khó chịu, không yên, như thiếu một thứ gì đó rất quan trọng. Và cả ngày hôm đó cô dường như không làm được việc gì cả. Diệp với tay lấy điện thoại bấm xem, lời dặn dò của Trường hôm nay làm cô bật cười. Lúc nào cũng vậy, anh luôn xem cô như là một đứa em gái nhỏ cần che chở. Bảo vệ và thương yêu. Ngoài câu chúc quen thuộc, còn có thêm vài dòng mới: “ Hôm nay tiết Đông chí, trời lạnh và khí trời độc lắm, em nhớ mặc ấm, xoa dầu trước khi đi làm nhé?”. Cô mỉm cười bấm nút gọi, tiếng của một cô ca sĩ nào đó hát bài “ Vầng trăng khóc”- nghe buồn não nề, và rồi cô cũng nghe được tiếng của Trường khàn khàn ở đầu dây bên kia:

–         A Lô! Chào em! Em không đi làm à?

Diệp không trả lời câu hỏi của Trường mà cười :

–         Tin nhắn của anh hôm nay giống của ba em quá!

–         Anh phải lo cho em chứ, sức khỏe của em yếu vậy nên phải cẩn thận. Em mà không khỏe thì lấy ai cằn nhằn anh bây giờ?

–         Nói xấu em rồi, em ngoan mà…

Không có tiếng trả lời chỉ có tiếng cười sảng khoái của Trường đáp lại

Cô chào anh và tắt máy, cảm thấy lòng thật ấm áp, dể chịu.Ngày mới bắt đầu…

Diệp và Trường không phải là hai nửa dành cho nhau, dây tơ hồng không buộc hai người. Trường đã có một gia đình yên ấm và hạnh phúc. Một người vợ đài các, kiêu sa, và rất dịu dàng trong đối xử. Và họ đã có với nhau hai đứa con – một trai, một gái thông minh, xinh xắn đáng yêu như những tiểu thiên thần. Còn Diệp một cô gái quê nghèo, tầm thường, cục mịch, không có gì đáng tự hào ngoài mớ kiến thức rối bòng bong trong đầu. Cô vẫn biết vin vào tình yêu với Trường là vi phạm về đạo đức, là ngoại tình, và đáng bị lên án; vậy mà Diệp cứ như đang bị lạc vào một bến mê không thể nào tìm được đường ra.

Ngày còn học phổ thông, ngồi chung lớp. Diệp và Trường được mấy bạn trong lớp gán ghép như một trò đùa về sự tương phản, một bên là cái đẹp, sự hoàn hảo; một bên là sự xấu xí, rụt rè, nhút nhát. Có mấy câu ca dao mà chúng bạn chế nhạo cô và anh lúc đó: Gỗ trắc đem bắc ván cầu,Yến sào đem nấu với đầu tôm khô “

Ban đầu khi nghe lũ bạn ghép đôi, Trường ghét cô lắm, không bao giờ Trường nhìn cô, hay nói bất cứ điều gì với Diệp cả. Nhưng sự thông minh, và am hiểu của Diệp dần dần lấy điểm cảm tình với các bạn cùng lớp, và cả với Trường nữa. Thời phổ thông, những cậu bé, cô bé ít chú ý đến nhan sắc, đến ngoại hình, mà chú ý nhiều đến sự hơn thua trong học tập, đến tài năng và thông minh của nhau mà thôi. Cũng nhờ lợi thế này mà cô trở thành bạn gái của anh sau một lần đố vui để học do trường tổ chức giữa các lớp.

Thi đấu vòng loại xong, lớp Diệp và hai lớp nữa được chọn vào thi chung kết. Đội của cô giỏi về các môn tự nhiên,  nhưng các câu hỏi về lĩnh vực này, học sinh ở các đội khác cũng trả lời được. Vì vậy số điểm được chia đều cho ba lớp, lớp của Diệp kém hai lớp còn lại 10 điểm vì khả năng phản ứng của họ nhanh hơn. Trên bảng chỉ còn lại một câu hỏi 20 điểm về lĩnh vực văn học mà lĩnh vực này cả Trường, Diệp và Nam đều không giỏi. Nét mặt buồn, thất vọng và lo lắng hiện rõ trên khuôn mặt của Trường. Cả đội đều hồi họp, căng thẳng. Thầy Sanh – Người dẫn chương trình đọc to câu hỏi: “ Trong truyện Kiều có ba nhân vật phản Diện là Mã Giám Sinh, Sở Khanh và Hồ Tôn Hiến. Em hãy tìm ba câu thơ mà trong đó có chưa ba từ nói lên toàn bộ bản chất của những người này?”.

             Nghe xong câu hỏi Trường nhăn mặt lắc đầu. Hội trường im phăng phắc, Diệp nhìn sang hai đội bạn, họ cũng đang bàn luận nhưng cuối cùng vẫn không có tiếng chuông nào vang lên. Diệp từ nhỏ đã rất thích truyện Kiều, và cô lại rất thông minh, đọc vài lần thôi mà Diệp gần như nhớ hết 3254 câu. Diệp e dè bảo Trường ấn chuông và ngập ngừng trả lời câu hỏi.

Mã giám Sinh:

“ Ghế trên ngồi tót sổ sàng”, từ “ tót”

Sở Khanh:

“ Rẽ song đã thấy Sở Khanh lẻn vào”, từ “ lẻn”

Với tên quan Hồ Tôn Hiến:

“ Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình”, từ “ ngây”

Trả lời xong, Diệp ngước lên nhìn ban giám khảo chờ đợi. Trong thâm tâm, Diệp nghĩ mình đã trả lời đúng nhưng cô vẫn cảm thấy lo sợ. Và Diệp không phải chờ đợi lâu, Thầy Tuân trưởng ban giám khảo đứng lên chúc mừng cho toàn đội. Trường nhảy lên, quên mất cô xấu xí,  quê mùa, quên mất đang có nhiều thầy cô, bạn bè trong hội trường, ôm chầm lấy cô xiết chặt. Một cảm giác rất lạ truyền đến trong cô, cho tới bây giờ, Diệp vẫn còn nhớ cái ôm vô thức hân hoan của Trường lúc đó.

Rồi Diệp và Trường cùng tốt nghiệp Trung học Phổ Thông, và tạo hóa một lần nữa lại trêu đùa – cô và anh đều thi và đậu vào trường Đại học kinh tế. Sống xa nhà, và nhất là không bị lũ bạn trêu chọc, nên Trường quan tâm lo lắng cho cô nhiều hơn. Tuy vậy anh chưa từng nói với cô một lời yêu thương nào mà những đôi tình nhân thường dành cho nhau. Có lúc Diệp cảm thấy tình cảm mà anh dành cho cô không phải là tình yêu mà chỉ là thứ tình của một người bạn thân, của một người anh trai dành cho cô em gái mà thôi. Còn Diệp thì ngược lại, cô đã gởi trọn hồn mình cho anh cất giữ, và mơ màng hi vọng vào một ngày mai.

Sự gần gũi thân tình này kéo dài suốt mấy năm học – Trường và Diệp đều ra trường. Với vẻ bề ngoài dể nhìn, cộng với ăn nói có duyên và tài năng, anh nhanh chóng xin được một vị trí làm việc, là mơ ước của nhiều người. Diệp chạy vạy mãi, sau cùng cũng kiếm được một công việc bình thường, đủ nuôi sống bản thân, nhưng Diệp vui nhất là được ở gần công ty Trường đang làm.

Hàng tuần anh vẫn đến thăm cô, vẫn cùng cô ăn tối, cùng cô đi dạo như những người đang yêu nhau – nhưng cũng chưa một lần Trường tỏ tình, nói với cô những lời mà cô đêm ngày mong ước. Thời gian bình lặng gắn bó như vậy cứ lờ lửng trôi qua. Hai năm sau, vào một buổi chiều cuối tuần như lệ thường vẫn hẹn nhau đi ăn tối – sau bữa ăn, Trường đưa Diệp vào vào quán cà phê “Thiên Đường” quen thuộc. Sau khi gọi cho cô cốc ca cao nóng, món uống mà cô thích nhất, và cho mình li cà phê đá – anh mở lời:

–         Diệp này! Chắc là  anh sẽ không thể đến thăm em trong một thời gian…

Cô ngạc nhiên nhìn Trường

–         Anh đi công tác xa à? Đi thời gian bao lâu vậy?

–         Không phải là đi công tác – Trường bối rối. Anh phải cưới vợ, phải làm cho xong nhiệm vụ với gia đình em à. Cha, mẹ của anh muốn có cháu để bồng…

Diệp bàng hoàng, nhìn sững vào anh – đôi môi mấp máy:

–         Anh đùa à?

Trường lấy trong túi áo lạnh ra một tấm thiệp cưới, và đưa về phía cô thay cho câu trả lời. Tên anh và tên một cô gái nằm sóng đôi, Diệp thấy hoa cả mắt. Cô muốn gào lên, muốn nhiếc mắng anh, muốn hỏi anh nhiều điều, nhưng cô không thốt lên được lời nào. Diệp ngồi im – cố ghìm những giọt nước mắt đang chực trào ra. Trường cầm lấy tay cô – siết mạnh::

–         Em đừng buồn, hãy cố lên, anh chỉ không liên lạc với em hơn một tuần thôi mà.

Diệp cắn chặt môi – thầm nghĩ: “ Anh ấy chỉ xem mình như một người bạn mà thôi? Vậy mà mình đã ảo tưởng, đã mơ mộng. Một con vịt bầu xấu xí như mình làm sao có thể sánh với Thiên nga?”. Lòng tự trọng trong Diệp trổi dậy, cô cố gắng nhếch môi cười. và nhìn đứng lên mặt Trường – chậm rải nói

–         Diệp chúc mừng anh. Chúc anh hạnh phúc!

–         Em không buồn gì anh chứ? – Trường như đọc được lòng cô.

Cô nói dối:

–         Sao em lại buồn giận anh được? – Diệp khẻ cười, anh chịu làm bạn với em là đã may mắn cho em lắm rồi.

–         Đã từ lâu anh xem em giống như em gái của anh vậy – em không đẹp nhưng em dịu dàng, thông minh, có cá tính – em đáng yêu lắm – Trường chợt cầm lấy bàn tay búp măng trắng muốt của Diệp – Anh tin chắc rồi em sẽ tìm được người chân thành, thực sự yêu em…

Diệp mở to đôi mắt nhìn Trường:

–         Nếu em không xấu mà xinh như cô vợ bác sĩ sắp cưới của anh – anh có bỏ em đi cưới vợ không?

Trường im lặng – nét mặt thẩn thờ. Như vừa đau xót, vừa thương cảm.

              Trường giữ đúng lời đã hứa, sau ngày cưới một tuần, anh gọi điện cho cô và hẹn cô đi uống cà phê buổi sáng. Diệp giận anh lắm và tự hứa với lòng là sẽ không gặp lại anh nữa – cô không muốn làm kẻ thứ ba, để cho gia đình phải anh khổ – vậy mà khi nghe giọng nói bối rối, như có vẻ hối lỗi của Trường, cô quên đi lời hứa của chính mình, cô chỉ biết là cô phải gặp Trường, vì cô đã nhớ anh suốt tuần lễ qua.

Sau cuộc gặp cùng nhau uống café ở cái quán có tên ”Thiên Đường“ thân quen cũ, mọi chuyện vẫn như xưa. Nhưng Trường quan tâm tới cô hơn trước. vẫn có thời gian rảnh là đến thăm cô và nhắn tin chúc cô an lành mỗi ngày. Còn Diệp không làm sao ra khỏi cái mê lộ của chữ tình mà Trường đã bày ra   Bao lần cô đã thầm nghĩ,  mình cũng là một người con gái, cũng cần sự an ủi, thương yêu, nhưng sao đợi chờ mãi vẫn không có người thành thật tìm đến bằng trái tim yêu thương mà cô hằng mong ước. Chỉ gặp nhiều người tán tỉnh, lợi dụng và trái tim khô cằn. Vì vậy cô vẫn yêu Trường bằng thứ tình yêu cuồng si, và trái tim nóng bỏng – nhiều lần cô muốn sa ngã cùng Trường. Nhưng anh luôn tỉnh táo để cô và anh không thể tiến xa hơn tình anh em, tình bè bạn.

Bây giờ công việc của Diệp rất ổn định, không lo gì về kinh tế, nhưng trong cô vẫn một nỗi buồn khó tả thành lời. Cô nhớ lại câu chuyện cổ tích “ Ngàn lẻ một đêm” mà cô đã đọc hồi còn bé. Diệp thấy mình cũng giống như vị hung thần kia – cô cũng đợi chờ trong vô vọng nhiều năm, nhưng cuộc sống của cô vẫn không có gì tươi sáng. Trường vẫn luôn bên cô, nhưng cuối cùng Diệp vẫn không biết hết ý nghĩa mầu nhiệm của tình yêu là gì? Phải chăng nó giống như thứ tình mà Trường đã bao năm dành cho cô? Nó mong manh. Diệu vợi. Và không thể nắm bắt?

Diệp nghĩ: Đôi khi tình yêu cũng chỉ là một thứ ảo ảnh của đời sống tạm này mà thôi. Trong đầu của Diệp, Trường luôn là một người yêu đầu ấp tay gối với cô đã bao năm để được yên vui tiếp tục cuộc sống rất nhạt nhẽo này…

Read Full Post »

  Hoài Nhơn, Quy Nhơn, Quy Ninh là địa danh qua các thời kỳ của tỉnh Bình Định ngày nay – vùng đất có nhiều gắn bó với việc ra đời và phát triển chữ Quốc ngữ, là nơi phôi thai chữ Quốc ngữ. Có một điều ít người biết, một trong ba nơi có cơ sở in sách Quốc ngữ đầu tiên ở Việt Nam thuộc về Bình Định – Nhà in Làng Sông.

 
Tiểu chủng viện Làng Sông. Ảnh: Đào Tiến Đạt

Việc cấm đạo vốn đã có từ thời các vua Minh Mạng, Thiệu Trị, đến thời Tự Đức còn được siết lại chặt hơn. Nhưng sách vở truyền đạo vẫn tiếp tục ra đời, chữ Quốc ngữ vẫn cứ thế phát triển theo quy luật tất yếu của ngôn ngữ. Vào nửa sau thế kỷ XIX, nhu cầu của cuộc sống buộc phải có nhà in. Do đó, một số nhà in của các giáo phận được thành lập, các loại sách – bao gồm các loại kinh sách, truyện, giáo khoa… bằng chữ Quốc ngữ được in và lan truyền nhiều hơn.

Ba nhà in sách Quốc ngữ đầu tiên ở Việt Nam là: Nhà in Tân Định – Sài Gòn – Nhà in của giáo phận Tây Đàng Trong; nhà in Ninh Phú- Tây Đàng Ngoài (Hà Nội); để ở miền Trung, nhà in của giáo phận Đông Đàng Trong được đặt ở Tiểu chủng viện Làng Sông – ngày nay thuộc thôn Quảng Vân, xã Phước Thuận, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

 
Trang bìa Mémorial nhà in Làng Sông, tháng 3 năm 1908.

Đi cùng sự phát triển của chữ Quốc ngữ

Nghề in đúc (typô) đầu tiên du nhập vào Việt Nam tại Sài Gòn năm 1861, tất cả máy, chữ, mực in, giấy và công nhân kỹ thuật được đưa từ Pháp sang.

Tại địa phận Tây Đàng Trong (Sài Gòn), nhà in được xây dựng năm 1865 (có tài liệu viết 1863 hoặc 1867) tại sở quản lý Nhà Chung. Đến năm 1874 thì chuyển nhà in về Tân Định. Một trong những quyển sách đầu tiên mà nhà in Sài Gòn (Tân Định) in là một cuốn sách bằng tiếng Pháp: ABC ABCD (Vần An Nam để đọc tiếng Latinh), in năm 1867 và quyển sách Quốc ngữ Bổn dạy ABCD, của D. Eveillard, in năm 1868. Ở Đàng Ngoài, ngoài Từ điển An Nam-La tinh (Dictionarium Annamatico-Latium) của J.S. Theurel, nhà in Ninh Phú, 1887, quyển sách Quốc ngữ in sớm nhất hiện còn là Bổn giảng về bảy phép cực trọng chúa Jesu đã lập, Nhà in địa phận Tây Đàng Ngoài, năm 1882. Theo Báo cáo năm 1873 của Giám mục Puginier, địa phận Tây Đàng Ngoài có một nhà in thạch bản và hai nhà in typô, một dành cho các sách Latinh, một dành cho các sách Việt Nam (Quốc ngữ).

Tiểu chủng viện Làng Sông xây dựng vào thập niên 40, thế kỷ XIX. Sau đó, Tòa giám mục và Nhà in của địa phận Đông Đàng Trong (từ Quảng Nam đến Bình Thuận và Tây Nguyên) cũng được xây dựng tại chủng viện này.

Trong Báo cáo hiện tình giáo phận Đông Đàng Trong năm 1885 của Giám mục Van Camelbeck Hân, về những thiệt hại nhân sự và cơ sở vật chất có đoạn: “… hỏng 1 nhà in…”. Và Báo cáo tình hình giáo phận Đông Đàng Trong năm 1873 của Giám mục Charbonnier được viết năm 1872 ghi rõ: giáo phận có 3 nhà thuốc và 1 nhà in.

Căn cứ các báo cáo này, nhà in của giáo phận Đông Đàng Trong – nhà in Làng Sông có trước thời điểm năm 1872, bị hỏng năm 1885. Và có thể nhà in Làng Sông được xây dựng cùng thời với nhà in của giáo phận Tây Đàng Trong (Sài Gòn) và nhà in của địa phận Tây Đàng Ngoài (Hà Nội). Như vậy có thể tin rằng, sự phát triển của chữ Quốc ngữ có phần đóng góp của các nhà in này rất lớn.

Năm 1904, Giám mục Damien Grangeon Mẫn cho tái thiết nhà in Làng Sông và giao cho Linh mục Paul Maheu làm giám đốc. Linh mục Paul Maheu rất thông thạo về kỹ thuật in ấn, và đây là thời kỳ cực thịnh của nhà in Làng Sông. Với hệ thống máy in mới, khổ rộng và hiện đại nhất lúc bấy giờ, một số lượng sách, báo rất lớn đã được nhà in xuất bản.

Trong năm 1922, nhà in Làng Sông đã in 18.000 tờ báo định kỳ, 1.000 bản sách các loại, 32.000 ấn phẩm khác, riêng Báo Lời thăm mỗi tháng hai số, mỗi số ra 1.500 bản và phát hành cả Đông Dương. Tổng cộng ấn phẩm của nhà in Làng Sông (Quy Nhơn) trong năm lên đến 63.185 ấn phẩm với 3,407 triệu trang in.

Đáng chú ý, nhà in Làng Sông đã in nhiều loại sách của các cây bút Quốc ngữ nổi tiếng ở Nam Bộ lúc bấy giờ như: Chuyện đời xưa (tái bản lần thứ 2) của Trương Vĩnh Ký; Chuyện giải buồn (2 tập) của Pierre Lục; 30 đầu sách của Lê Văn Đức (một trí thức nổi tiếng, thế hệ sau Trương Vĩnh Ký) gồm nhiều thể loại hiện còn lưu giữ ở Thư viện Quốc gia (Hà Nội): Tây hành lược Ký, Đi bắt ăn cướp (tuồng), Tìm của báu (tiểu thuyết), Chúa Hài Nhi ở thành Nadarét (kịch), Du lịch Xiêm….

Imprimerie de Làng Sông, Imprimerie de la Mission de Quy Nhơn hoặc Imprimerie de Quy Nhơn đều là tên gọi ấn quán của giáo phận Đông Đàng Trong. Ngoài sách tiếng Latinh và tiếng Pháp, nhà in Làng Sông (Quy Nhơn) đã in một số lượng lớn sách Quốc ngữ đa dạng về thể loại như: Giáo lý, kinh thánh, giáo dục ấu học, trung học, truyện, tiểu thuyết, kịch, tạp chí, tuồng, lịch, sách dịch… Những ấn phẩm của Làng Sông được thống kê trong Mémorial– Bản thông tin hàng tháng của địa phận và được tổng kết vào trang cuối năm, bằng tiếng Pháp xen với tiếng Việt (Quốc ngữ).

Một trang Mémorial thống kê sách đã in của nhà in Làng Sông năm 1910 có 36 đầu sách, trong đó 25 đầu sách chữ Quốc ngữ, số còn lại là tiếng Pháp. Chia thành 4 nội dung: Sách trường học, sách giáo lý, sách cầu nguyện – đạo đức và các sách khác. Sách học được xếp mục đầu tiên với những loại sách như: Phép đánh vần (tái bản lần thứ 5), Con nít học nói (tái bản lần thứ 3), Ấu học (tái bản lần thứ 3), Trung học, Địa dư Sơ lược. Bản kê có ghi giá tiền từng đầu sách.

Tháng 11 năm 1933, nhà in Làng Sông bị bão đánh sập. Một nhà in mới của giáo phận được khởi công xây dựng vào năm 1934 tại Quy Nhơn (trong khuôn viên chủng viện Quy Nhơn). Năm 1935, nhà in Quy Nhơn hoạt động song song với nhà in Làng Sông (đã được tu sửa sau cơn bão). Ít lâu sau, nhà in Làng Sông được sát nhập về nhà in Quy Nhơn.

 
Ấn phẩm của nhà in Làng Sông năm 1910 được thống kê trong Mémorial.

Tham gia phục vụ kháng chiến

Trong chính sách tiêu thổ kháng chiến (1946 – 1947), cơ sở vật chất kỹ thuật của nhà in Quy Nhơn được tháo dỡ, chuyển về giáo xứ Nam Bình (xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước) do thầy Paul Định làm giám đốc. Tại đây, các nhà tu hành đã mở dạy kỹ thuật sắp chữ in cho đội ngũ công nhân mới. Nhà in của nhà thờ được sử dụng để in tài liệu phục vụ kháng chiến, sách giáo khoa phục vụ giáo dục.

Một thời gian sau, theo yêu cầu của kháng chiến, máy in lại được chuyển ra Đại An (xã Cát Nhơn, huyện Phù Cát), rồi lên Ân Thường (xã Ân Thạnh, huyện Hoài Ân). Năm 1955 lại đưa về Kim Châu (thị trấn Bình Định, huyện An Nhơn) và cuối cùng được chuyển vào Nha Trang năm 1957.

Trong thời gian này, nhà in này đã in ra một lượng lớn ấn phẩm phục vụ kháng chiến, sản xuất và giáo dục, không chỉ cho Bình Định mà còn cho cả các tỉnh Liên khu 5 (từ Quảng Nam đến Bình Thuận và Tây Nguyên). Rất nhiều ấn phẩm ra đời trong giai đoạn này nay còn được lưu giữ tại Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Bình Định như: Báo Tin Tức, Báo Dân Chúng, Bản tin, Tập san, Đặc san, thơ và sách văn, toán, lý, hóa trung học, tiểu học (sách lý và hóa của Đoàn Nhật Tấn, sách toán của Đinh Thành Chương, Việt ngữ chính tả của Nguyễn Châu, Chiều biên khu (thơ) của Nguyễn Tiểu Đào, Miền Trung khói lửa (thơ) của Nguyễn Đình …).

Mémorial Làng Sông (Quy Nhơn) – ấn phẩm của cơ sở ra số cuối cùng tháng 12.1953. Như vậy, đến năm 1954 nhà in Làng Sông – Quy Nhơn, sau gần một thế kỷ hoạt động đã giải thể, toàn bộ máy móc nhà in chuyển vào Nha Trang.

 
Bìa sách Chuyện đời xưa của Trương Vĩnh Ký in tại nhà in Làng Sông năm 1909.

Làng Sông – một địa danh lịch sử

Từ sau năm 1865, chữ Quốc ngữ được sử dụng rộng rãi trong các loại sách đạo, sách đời, riêng loại sách giáo dục chữ Quốc ngữ được in tái bản nhiều nhất. Số lượng đầu sách chữ Quốc ngữ từ năm 1865 đến những thập niên đầu thế kỷ XX lên đến hàng ngàn. Tuy nhiên, trải qua nhiều biến cố lịch sử, một số lượng lớn sách Quốc ngữ của các nhà in đầu tiên phần lớn đã thất lạc.

Hiện nay, tại Thư viện Quốc gia (Hà Nội) còn lưu giữ 241 đầu sách Quốc ngữ của nhà in Quy Nhơn (Làng Sông) như: Lưu tình (tâm lý tiểu thuyết), Nguyễn Vân Trai; Thiệt phận thuyền quyên (tiểu thuyết), Đinh Văn Sắt; Hai chị em lưu lạc (tiểu thuyết trẻ nhỏ), Pierre Lục; Nghề trồng rau, Mai Hữu Tưởng; Con nít học nói cho nhằm lễ nghi, Simon Chính; Địa dư tỉnh Phú Yên, Nguyễn Cầm; Địa dư nông học Bình Định, Bùi Văn Lăng …

Nhà in Tây Đàng Trong – Tân Định (Sài Gòn), nhà in Tây Đàng Ngoài (Hà Nội), nhà in Làng Sông (Quy Nhơn) – Đông Đàng Trong là ba cơ sở in sách Quốc ngữ đầu tiên ở Việt Nam, đã có những đóng góp đáng kể trong việc phát triển chữ Quốc ngữ và văn học Quốc ngữ hậu bán thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX.

Ngày nay, người ta biết đến Tiểu chủng viện Làng Sông phần lớn là ở góc độ là nơi có công trình kiến trúc đẹp, lâu đời. Rất ít người biết rằng nơi đây từng tồn tại một nhà in có nhiều đóng góp cho sự phát triển của chữ Quốc ngữ, có một đoạn rất dài đi cùng kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc.


  • Nguyễn Thanh Quang (Baobinhdinh.com)

Read Full Post »

– Ông Đỗ Văn Lan ở thôn Phú Gia, Cát Tường, Phù Cát, Bình Định đem chiếc nón ngựa của mẹ ông đã dùng trong suốt hơn 45 năm cho khách xem.

Chiếc nón đặt trên bàn thờ chỉ cũ chứ không hề hư hỏng, lớp lá lợp nón bóng loáng, ánh màu thời gian. Ông Lan cho biết: “Dùng lá kè mỡ để lợp nón thì càng đi mưa, đi nắng lại càng thêm bền chắc, lạ kỳ là thế”.

Điểm độc đáo của quy trình làm nón ngựa là người thợ không dùng khuôn để dựng nón, do vậy mỗi chiếc nón được làm ra là một sản phẩm độc bản. Có hơn mười công đoạn để làm ra một chiếc nón ngựa trong đó phần dựng khung là công phu nhất.

Chiếc nón có đường kính 0,9m được ông Lan làm để trưng bày cho du khách đến tham quan.
Chiếc nón có đường kính 0,9m được ông Lan làm để trưng bày cho du khách đến tham quan.

Nón ngựa được đan bởi 3 lớp nang chồng lên nhau, bằng những sợi giang chuốt nhỏ như sợi chỉ. Đan lớp nang thứ nhất gọi là đan sườn mê, tạo thành những hình lục giác. Lớp nang thứ hai được đan theo chiều dọc, chạy thẳng từ chóp xuống vành. Lớp nang thứ ba được đan vòng tròn quanh nón. “Người thợ giỏi cũng phải mất hai ngày để dựng một khung nón”, ông Lan khẳng định.

Cả xã Cát Tường hiện có khoảng 400 hộ làm nón nhưng chỉ khoảng 1/3 số này là làm nón ngựa. Một chiếc nón ngựa làm mất một tuần công và mỗi công đoạn do một người đảm nhiệm. Người dựng khung, người thêu, người chằm nón… mỗi công đoạn đều đòi hỏi sự khéo tay, tỉ mỉ và phải rất tài hoa. “Ngày xưa chỉ có người có chức tước hay nhà giàu, phong lưu cưỡi ngựa mới đội nón có chóp bịt bằng bạc chạm trổ công phu nên gọi là nón ngựa”, người già ở Phú Gia đều giải thích như thế.

a
Lá kè mỡ là loại lá đặc biệt để chằm trên nón ngựa.
a
Rất tỉ mỉ, người làm nón ngựa chằm lớp lá lên phần khung nón.
q
Mỗi chiếc nón ngựa có giá bán từ vài trăm đến hàng triệu đồng.
a
a
Chiếc nón ngựa do ông Lan làm theo đơn đặt hàng của khách đúng theo nguyên mẫu chiếc nón ngựa mà quan lại xưa vẫn đội.
a
a
a
Ông Đỗ Văn Lan vẽ lại những chi tiết chạm trên chóp nón bằng bạc cổ để giữ cho thế hệ tương lai.Lê Anh Tuấn

Read Full Post »

SGTT.VN – Khởi thuỷ, làng biển Đề Gi là một khu rừng rậm, trải dài ven biển, từ Gành cho đến Chánh Oai, qua Cát Tiến. Gia phả của dòng họ Nguyễn còn ghi rõ: người lập làng là vị quan đại thần của chúa Trịnh. Vì phạm tội với chúa mà phải trốn vào Nam cùng với những người thân tín. Tới vùng biển này, thấy sau lưng là núi, trước là biển, liền dừng lại lập làng. Sau này, chúa Nguyễn Ánh trên đường bôn tẩu sang Xiêm La (Thái Lan ngày nay), có ghé lại vùng biển này, vô tình đào vài tấc cát ven đầm đã thấy nước ngọt nên mới đặt tên là Đạm Thuỷ, còn trước đó, người dân gọi là đầm Đề Gi.

 
Gỏi cá mai – đặc sản của làng biển Đề Gi. Ảnh: Minh Phúc

Từ Biển Đông, muốn vào đầm Đạm Thuỷ phải qua cửa biển Đề Gi. Sách Đại Nam nhất thống chí có nhắc đến cửa biển này: “… rộng 11 trượng, thuỷ triều lên sâu sáu thước, thuỷ triều xuống sâu bốn thước. Phía tây có đầm Đạm Thuỷ, thuyền buôn thường đỗ ở đây…”

Không chỉ có cá mai

Đề Gi chẳng có nghĩa gì cả và chẳng ai biết cái tên làng ấy có từ bao giờ. Ông Nguyễn Văn Tri, chủ tịch xã Cát Khánh cho biết thêm, ngoài tên Đề Gi, làng biển này còn có một tên khác: JéJi. Cuối thế kỷ 19, người Pháp lập một trạm thu thuế muối đặt tên là JéJi, có lẽ ghi âm từ “Đề Gi” mà ra. Trạm thuế quan này kiểm soát toàn bộ vùng muối Đề Gi. Nước trong đầm Đề Gi mặn chằng nên hạt muối to và trắng. Sau ngày giải phóng, từ chợ Gành xuôi về Ngãi An, hai bên đường chỉ thấy những ruộng muối… Mấy năm sau này, ruộng muối hẹp dần, nhường chỗ cho ao nuôi đặc sản cá mú, cá chua… nhưng theo lời ông Tri, “Đề Gi vẫn là vùng muối lớn nhất tỉnh Bình Định, lớn hơn cả vùng muối Hà Ra, Phú Thứ bên xứ Phù Mỹ. Còn về chất lượng, muối Đề Gi ngon hơn cả muối Sa Huỳnh, Cà Ná…”

Cứ cuối tuần, ông Phan Thanh Tâm (kỹ sư xây dựng) ở thành phố Quy Nhơn về Đề Gi ăn món gỏi cá trỏng. Gần đây, người ghiền gỏi cá lại thích cá mai hơn vì thịt giòn và ngon hơn cá trỏng. Nước chấm đậm đà làm gỏi cá mai ở đây “bốc” hơn. Có ông bạn sành ăn, đã từng ăn gỏi cá mai nhiều nơi, thừa nhận “gỏi cá mai Đề Gi ngon nhất nước. Con cá mai ở đây múp không chịu nổi”. Cá mai được bắt trong đầm Đề Gi mà chẳng cần đi đâu xa. Ước chừng, mỗi ngày, ngư dân đánh khoảng hai tạ cá mai, bán cho quán để làm gỏi. Tuỳ mùa mà giá khác nhau, thường giá từ 50.000 – 70.000đ, lúc khan hiếm bán với giá 100.000đ một ký. Những ngày cuối tuần, làng biển Đề Gi rộn ràng với những chiếc xe hơi từ Phù Cát, Quy Nhơn… về ăn gỏi cá mai với giá 25.000đ/dĩa (khoảng chừng 20 con). Ở Sài Gòn, muốn ăn gỏi cá mai cũng không quá khó. Chỉ cần gọi điện, chủ quán ướp cá trong thùng đá, gập ghềnh trên quốc lộ 1 khoảng 12 tiếng đồng hồ là có cá để ăn.

Muốn đến làng biển Đề Gi, từ Quy Nhơn, chạy dọc theo đường ven biển Nhơn Hội, khoảng 54 cây số. Còn theo quốc lộ 1, tới ngã ba Chợ Gồm, quẹo phải, ngót nghét 70 cây số. Cho đến bây giờ, chẳng ai hiểu vì sao làng biển ấy lại được mang tên Đề Gi khi mà địa danh này là tên gọi chung của cả một vùng đất gồm năm xã của hai huyện Phù Cát và Phù Mỹ (thuộc tỉnh Bình Định). Có lẽ, vì làng nằm ngay cửa biển.

Ở làng biển này còn có những đặc sản, như cá chua, cá bống mú, cá hồng, sò huyết, lịch huyết… Cũng là những loại cá như những miền biển khác nhưng không hiểu sao, chúng lớn lên ở đầm Đề Gi lại ngon, ngọt và thơm hơn. Nhiều thực khách sang trọng nhưng vẫn thích cách ăn “nhà quê”: luộc hay nướng rồi cuốn bánh tráng, rau sống, chấm nước mắm nguyên chất ngai ngái, chêm với rượu đế Đồng Lâm (cách Đề Gi vài cây số)…

Đề Gi còn nổi tiếng với nghề làm nước mắm, cụ Dệt, nay đã 98 tuổi kể rằng, từng đoàn ghe bầu dong buồm chở nước mắm Đề Gi ra Huế tiến cho triều đình nhà Nguyễn. Còn gần đây, cứ đến tết dương lịch, ông Tri phải mua cả trăm lít nước mắm tặng mấy người bạn ở Quy Nhơn vì nước mắm Đề Gi “đã ăn sẽ khó quên”! Cũng là con cá nục, cá cơm, cá lồ ồ, cá hố, cá sơn, cá thu, cá bạc má, cá ngân… nhưng khi làm mắm ở Đề Gi, mắm lại có vị khác, mùi khác. Người dân ở đây tự hào, nước mắm hay con mắm làm ở Đề Gi ngon hơn những vùng khác là nhờ muối Đề Gi mặn hơn muối ở những vùng khác!

 
Cảng cá Đề Gi. Ảnh: Uyên Thu

Muối mặn cho sản vật tuyệt hảo

Các loại mắm Đề Gi, tuỳ theo mùa mà chọn cá. Cá rửa sạch, trộn đều với muối theo công thức “ba cá một muối”. Để chờ ráo “nước máu”, rồi bỏ vào thạp, sau đó bịt kín, ủ từ bốn đến sáu tháng tuỳ theo loại cá. Thời gian ủ càng lâu càng ngon nhưng không quá một năm vì sợ mắm “xẵng” (đắng). Muốn ăn nước mắm đục, dùng vải mùng lược bỏ xác mắm, chỉ còn nước, chắt vào chai. Còn làm nước mắm trong, quậy đều thùng mắm, dùng vải mùng lược xác mắm nhiều lần. Sau đó dang nắng từ năm tới mười ngày, khi nước mắm chuyển sang màu vàng trắng là ăn. Nước mắm trong tinh chế theo kiểu “gia truyền” có mùi ngai ngái, màu sắc chẳng lấy làm sang. Đã nước mắm phải mặn nhưng nước mắm Đề Gi lại “mặn êm”.

Đến bây giờ vẫn chưa thấy ai đứng ra đăng ký thương hiệu cho nước mắm Đề Gi. TS Nguyễn Thanh Bình (ĐH Luật TP.HCM), một người con của làng biển này, trăn trở: “Muốn giữ được uy tín của nước mắm Đề Gi, không thể sản xuất theo kiểu công nghiệp được mà phải sản xuất thủ công. Nhưng sản xuất thủ công thì phải có cách đáp ứng số lượng cho nhu cầu thị trường. Muốn gì cũng phải đăng ký thương hiệu trước”. Hỏi chuyện, ông Tri ước đoán mỗi năm Đề Gi sản xuất chừng vài ngàn lít nước mắm theo “công nghệ cổ truyền” để ăn và để tặng!

Năm 1994, làng biển Đề Gi tan tác vì khai thác titan. Bãi cát cuối làng là nơi chơi đùa của lũ trẻ trong xóm bỗng dưng bị cày xới, lục tung để tìm một thứ bùn đen mà sau này người dân trong làng mới biết đó là titan. Cát bay mù mịt. Những chuyến xe chở titan xé nát con đường cái quan giữa làng. Cuộc sống nhộn nhịp hơn, ồn ào hơn, phá vỡ nhịp sống quen thuộc hàng trăm năm nay của một ngôi làng biển. Năm ngoái, công ty liên doanh khai thác khoáng sản Việt Nam – Malaysia hết hạn khai thác. Để lại những vệt cát nham nhở, những gốc dương xiêu vẹo.

Cách đây ba năm, 200ha của khu khai thác titan đã được quy hoạch để xây dựng trung tâm nhiệt điện Sài Gòn – Nhơn Hậu với công suất thiết kế 2.400MW. Đây là dự án của công ty Tân Tạo (TP.HCM). Theo kế hoạch của nhà đầu tư, năm 2013 sẽ khởi công. Nhìn thấy trong tương lai hiện lên một nhà máy nhả khói đen kịt trong không gian xanh ngắt của trời và biển! Mà cũng có thể sẽ không có điều đó. Lạy trời…

Trọng Hiền

Read Full Post »

Older Posts »